CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước (NSNN), tại bất kỳ một quốc gia nào thuế cũng là một công cụ quan trọng của nhà nước (NN) để quản lý, điều tiết mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phân phối tiêu dùng. Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho NN do luật quy định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của NN. Thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa NN với các pháp nhân và thể nhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện phân phối tài chính.
Như vậy, thuế là công cụ quản lý của NN, vì vậy nhiệm vụ chính trị của ngành Thuế là đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí và lệ phí vào NSNN. Tại Việt Nam, tỷ trọng đóng góp thuế so với GDP chiếm khoảng 18% và trong cơ cấu nguồn thu thuế hiện nay của nước ta thì nguồn thu từ hoạt động kinh doanh của DN đang chiếm tỷ lệ cao, chiếm khoảng 90% tổng nguồn thu thuế, và theo dự báo nguồn thu thuế từ DN vẫn là chủ yếu trong thời gian tới của nước ta (Huỳnh Thế Du, 2016). Thuế TNDN là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội, là nguồn thu quan trọng của NSNN, là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chứng năng điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định. Chính vì thế, thuế TNDN chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN.
Tỷ trọng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) trong tổng thu NSNN tăng, từ mức trung bình 59,5% trong giai đoạn 2006 - 2010 lên 68,7% trong giai đoạn 2011 - 2015 và 81,6% trong giai đoạn 2016 - 2020. Năm 2020, tỷ trọng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) trong tổng thu NSNN đạt khoảng 85,6% (năm 2015 là 75,6%) (Bộ tài chính, 2021). Về cơ chế quản lý thuế nói chung và kiểm soát thuế TNDN nói riêng thì Luật quản lý thuế có hiệu lực nhằm quản lý thuế theo chức năng, người nộp thuế thực hiện theo cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các khoản kê khai của mình. Thực tế cho thấy, hầu hết các DN đều ý thức được việc thực 1 hiện đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ, hạch toán kế toán, chấp hành tốt việc kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, các Luật thuế mới cũng còn nhiều hạn chế, vướng mắc, do đó một số DN lợi dụng kẻ hở của Luật để khai man trốn thuế ở nhiều mức độ khác nhau, từ đơn giản đến tinh vi phức tạp, trong nội bộ DN đến liên kết nhiều DN ở nhiều tỉnh, thành phố khác nhau, mức độ vi phạm ngày càng đa dạng, phức tạp, nghiêm trọng. Đặc biệt, hiện tượng các DN kê khai lỗ đang khá phổ biến (khoảng 50% tổng số DN FDI đang hoạt động trên cả nước, trong đó có nhiều DN kê khai lỗ liên tục trong 3 năm). Mức độ trốn thuế và tránh thuế cao một phần do khu vực kinh tế phi chính thức còn quá lớn, trong khi chính sách thuế và cơ chế quản lý thuế còn nhiều kẽ hở khiến cho đối tượng nộp thuế lợi dụng, đi đôi với vấn đề đạo đức của công chức ngành thuế và chế tài trừng phạt hành vi trốn, tránh thuế chưa đủ sức răn đe. Chi phí tuân thủ thuế cao và mức độ tham nhũng cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng trốn tránh thuế, thất thoát nguồn thu thuế.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), với quy mô khu vực kinh tế phi chính thức từ 17,6% GDP đến 35,7% GDP thì mức độ thất thoát nguồn thu thuế tương ứng từ 3,5% GDP đến 6,1% GDP (Nhóm nghiên cứu Vietnam Report, 2014). DNNVV được xem là nhóm đối tượng có tỷ trọng lớn và năng động nhất, là trung tâm trong quá trình pháp triển của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam (Lý Phương Duyên, 2017). Tính đến ngày 31/12/2015, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực DNNVV tại Việt Nam chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc; đầu tư khu vực này chiếm khoảng 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; đóng góp 40% GDP; 30% tổng thu NSNN (Tô Hoài Nam, 2017). Nguồn thu Ngân sách Nhà nước từ đối tượng DNNVV chiếm tỷ trọng khá cao và tỷ trọng này có thể sẽ tăng mạnh trong thời gian tới khi các điều kiện kinh doanh được thuận lợi hơn và sự quan tâm của nhà nước đối với đối tượng này càng nhiều và đi vào cụ thể.
Tuy nhiên, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN đối với DNNVV ở Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn, phức tạp. Theo báo cáo tổng kết của Tổng cục Thuế (2017), trong năm 2017 cơ quan thuế (CQT) các cấp đã thanh tra, kiểm tra được 67.814 DN; kiến nghị xử lý thu vào NSNN là 12.212,6 tỷ đồng; giảm khấu trừ là 1.047,4 tỷ đồng; tổng số giảm lỗ là 19.733,4 tỷ đồng; đã đôn đốc nộp vào NSNN là 7.757,6 tỷ đồng, bằng 80,2% so với cùng kỳ năm 2016. Sang năm 2018, cơ quan thuế các cấp đã thực hiện hơn 97.000 2 cuộc thanh tra kiểm tra doanh nghiệp và truy thu 17.960 tỷ đồng, giảm lỗ hơn 34. Như vậy, bên cạnh các DN chấp hành tốt pháp luật thuế thì còn nhiều DN chưa chấp hành các quy định về đăng ký thuế, kê khai và nộp thuế theo quy định, đặc biệt có nhiều trường hợp cố tình vi phạm pháp luật thuế nhằm trốn thuế, gian lận chiếm đoạt tiền thuế của NN.
Điều này không chỉ gây ảnh hưởng tới việc thất thu NSNN mà còn gây bất bình đẳng trong cạnh tranh và hoạt động kinh doanh của các DN khác, ảnh hưởng tới vai trò điều tiết vĩ mô của NN thông qua công cụ thuế. Bình Dương là địa phương có số thu NSNN đứng thứ ba cả nước sau TP.HCM và Hà Nội. Năm 2018, toàn tỉnh Bình Dương đã hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ tài chính - NSNN, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Trong năm, thu cân đối NSNN đạt 1.422,7 nghìn tỷ đồng, vượt 103,5 nghìn tỷ đồng tương đương vượt 7,8% so với dự toán.
Trong đó, thu ngân sách Trung ương vượt 4,3%; thu ngân sách địa phương vượt 12,5% dự toán. Nhờ thu ngân sách đạt khá, các nhiệm vụ chi ngân sách được đảm bảo theo dự toán. Bội chi NSNN năm 2018 dưới 3,6% GDP. Tính đến 31/12/2018, dư nợ công dưới 61% GDP, dư nợ Chính phủ dưới 52% GDP, dư nợ vay nước ngoài của quốc gia đạt khoảng 49,7% GDP, trong phạm vi Quốc hội cho phép (Phương Chi, 2019).
Thu NSNN tăng cao nhưng nợ thuế cũng tăng theo, tổng số tiền thuế nợ tại thời điểm 31/5/2019 của toàn tỉnh Bình Dương là trên 2.868 tỷ đồng, so với thời điểm ngày 31/12/2018, tăng 727 tỷ đồng, tăng 34%, so với dự toán thu ngân sách năm 2019 được giao thì tỷ lệ nợ thuế đang ở mức 7,24% (Văn Tuấn, 2019). Số nợ thuế năm 2018 được ghi nhận tại Cục thuế Bình Dương là 2.141 tỷ đồng, tăng 31,1% so với năm 2017. Dù đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau nhưng trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản; Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng nhưng đối tượng nợ thuế vẫn dây dưa, thiếu hợp tác. Cục Thuế Bình Dương đang tiếp tục thực hiện quyết liệt các biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước, phấn đấu đến 31/12/2019, đưa tỷ lệ nợ thuế giảm xuống dưới 5% theo quy định của Tổng cục Thuế.
Qua thực tế này cho thấy sự tuân thủ thuế của DN nói chung trên địa bàn tỉnh Bình Dương còn thấp. 3 CCT Thành phố Thuận An đang quản lý các DNNVV theo quy định của Cục thuế Bình Dương, hiện tại CCT đang đối mặt với những thách thức chung đó là sự thiếu tuân thủ thuế của DNNVV trong đó có thuế TNDN. Sự thiếu tuân thủ này thể hiện ở các khía cạnh như đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế chưa đúng quy định còn diễn ra nhiều, tình trạng né thuế và lách thuế vẫn được xử lý hàng năm chưa có dấu hiệu giảm, tình hình nợ thuế, chây ỳ thuế vẫn duy trì ở mức cao. Tổng số tiền nợ đọng thuế tính đến cuối năm 2018 là 231,91 tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2017 và trước đó năm 2017 tỷ lệ số tiền nợ thuế tăng 17%.
Số nợ đọng thuế năm 2018 chiếm 11,94% tổng số thu NSNN, trong tỷ lệ này thì nợ có khả năng thu chiếm 5,09% trong tổng thu NSNN. Các thuế nợ này chủ yếu rơi vào thuế TNDN và thuế GTGT. Có thể thấy, mặc dù CCT thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương trong những năm qua đã có nhiều chương trình dịch vụ hỗ trợ thuế giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện tuân thủ thuế, ví dụ như đối thoại doanh nghiệp, tập huấn, hỗ trợ giải đáp qua email, trang thông tin điện tử hay trả lời văn bản và thực hiện đánh giá sự hài lòng để cải thiện dịch vụ thuế của cơ quan thuế (báo cáo tổng kết năm 2021 – CCT thành phố Thuận An), tuy nhiên sự gia tăng tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế, thể hiện qua số tiền xử phạt và truy thu thuế TNDN của doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn tăng hàng năm. Chương trình tuân thủ thuế tự nguyện của cơ quan thuế vẫn chưa cụ thể và chưa được nghiên cứu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đó mức độ ảnh hưởng đến việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tuân thủ thuế TN còn nhiều hạn chế.
Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến đề xuất các giải pháp tăng cường tuân thủ thuế của DN nói chung và DNNVV nói riêng nhưng các nghiên cứu trước đây thường có những kết quả nghiên cứu khác nhau về các hạn chế cũng như nguyên nhân hoặc các yếu tố ảnh hưởng nên các giải pháp hoặc khuyến nghị đưa ra chưa có tính nhất quán.