chương 1 Luật Doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp là một tổ chức có kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường”. [7] Các doanh nghiệp hoạt động vì lợi ích kinh tế, một số nhỏ doanh nghiệp hoạt động vì lợi ích phi kinh tế. Mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp tập trung tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư và lợi nhuận. Tại Việt Nam hiện nay tồn tại các loại hình doanh nghiệp sau: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh, hợp tác xã.
Doanh nghiệp được thành lập, tồn tại, phát triển tại những địa điểm theo đăng ký kinh doanh, gắn với hoạt động tại những địa phương nhất định và đóng góp cho sự phát triển của địa phương đó. Doanh nghiệp cũng là một thực thể kinh tế, tồn tại và phụ thuộc vào chất lượng quản trị của những nhà quản trị doanh nghiệp. Được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác phải có trách nhiệm thực hiện đóng góp nghĩa vụ ngân sách với nhà nước, có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội. Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế - Doanh nghiệp là bộ phận tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP), đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, cung cấp khối lượng sản phẩm dịch vụ lớn.
- Các doanh nghiệp đã tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động. Thu nhập cao và tăng nhanh của lao động khối doanh nghiệp góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của toàn xã hội và tham gia vào 7 quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp. - Các doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm từ sản xuất, kinh doanh để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hàng hóa, dịch ngày càng cao của người tiêu dùng. Ngoài ra, thu hút lượng lớn nguồn vốn đầu tư của xã hội.
Tỷ trọng đầu tư vào các doanh nghiệp trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội tăng từ 61% năm 2019 lên 72% năm 2020. - Sự phát triển của các doanh nghiệp, thúc đẩy môi trường kinh doanh, cạnh tranh năng động, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo ra các thành phần kinh tế đa dạng, phá bỏ tính độc quyền của một số doanh nghiệp nhà nước. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự tham gia của khu vực kinh tế này. Khái quát về thuế và quản lý thuế 1.
Khái quát về thuế a. Khái niệm về thuế Các khái niệm về thuế được xây dựng dựa trên những vấn đề thuộc về bản chất của thuế và phải đảm bảo nêu bật được các khía cạnh sau: Thứ nhất, với đặc điểm là quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với pháp nhân và thể nhân, không được hoàn trả trực tiếp, đây là nội dung kinh tế của thuế. Thứ hai, việc chuyển giao thu nhập là bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước; phát sinh một cách khách quan. Thứ ba, pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước những khoản tiền mà pháp luật quy định.
Từ nội dung trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau: Thuế là khoản nộp tiền mà các thể nhân, pháp nhân có nghĩa vụ tuân theo pháp luật đối với Nhà nước; là khoản không hoàn lại trực tiếp cho các doanh nghiệp và được sử dụng để trang trải các nhu cầu chi tiêu công. Bản chất, chức năng của thuế 8 Thuế có đặc điểm, hình thức vận động và chức năng riêng, bắt nguồn tổng thể của các mối quan hệ tài chính. Đây là một phạm trù kinh tế cũng là phạm trù tài chính, thể hiện các thuộc tính vốn có của các mối quan hệ tài chính. Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc điểm, hình thức vận động và chức năng riêng của nó xuất phát từ mối quan hệ tài chính tổng thể.
Chúng tôi thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng: chức năng huy động nguồn tài chính cho nhà nước và chức năng điều chỉnh. * Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập Tất cả các thành phần kinh tế đều phải chấp hành nghĩa vụ thuế, và hình thành nguồn ngân sách nhà nước, các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. Tạo tiền đề để Nhà nước tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. * Chức năng điều tiết - Điều tiết kinh tế: Nhà nước ban hành hệ thống luật thuế, nhà nước quy định đánh thuế hay không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp, có chính sách ưu đãi miễn giảm thuế.
Thông qua thuế, tác động và làm thay đổi quan hệ cung cầu trên thị trường, góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô, đảm bảo sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các ngành và các vùng lãnh thổ. Thuế là một công cụ trong lĩnh vực tài chính sắc bén nhất được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. - Điều tiết tiêu dùng: Nhà nước hướng dẫn tiêu dùng bằng nhiều biện pháp, bao gồm cả hành chính, xã hội và kinh tế. Việc áp dụng các loại thuế gián thu phân cấp như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… sẽ làm giảm cầu đối với hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cho là hạn chế, ưu đãi.
Cần lưu ý tránh phân biệt đối xử đối với hàng hóa, dịch vụ trong nước và nước ngoài, kể cả việc áp dụng thuế suất nhập khẩu hoặc thuế nội địa, vì nó vi phạm các cam kết quốc tế đã từng tham gia. - Điều tiết xã hội: Thực hiện chính sách công bằng theo quan điểm bình đẳng sẽ triệt tiêu động lực làm việc của người lao động, ngược lại sẽ làm gia tăng mâu thuẫn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững đất nước. Sự phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế hội nhập có nguy cơ lớn hơn, sự phân hóa này sẽ duy trì và 9 mở rộng về lâu dài, mặc dù thu nhập tuyệt đối của toàn xã hội được nâng cao. Đây là động lực thúc đẩy người lao động nâng cao trình độ, kỹ năng nhưng cũng là nguyên nhân dẫn đến khoảng cách xã hội.
Trong bối cảnh đó, thuế, và đặc biệt là thuế thu nhập, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng và giảm chênh lệch giàu nghèo. Hệ thống thuế và phân loại thuế * Khái niệm hệ thống thuế Hệ thống thuế ở Việt Nam là một hệ thống gồm có nhiều sắc thuế được quản lý tập trung. Hệ thống chính sách thuế hiện hành của Việt Nam bao gồm các sắc thuế: - Thuế GTGT - Thuế TNDN - Thuế TNCN - Thuế TTĐB - Thuế xuất – nhập Về thẩm quyền quản lý và thu thuế, theo quy định, Tổng cục Thuế thực hiện chức năng quản lý Nhà nước (quản lý và thu) đối với các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nước bao gồm thuế (trừ thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu), phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nước. Tổng cục Hải quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước (quản lý và thu) đối với các loại thuế liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nước theo quy định của Chính phủ.
* Phân loại thuế Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào ngân sách Nhà nước, các sắc thuế được phân làm 2 loại: Các sắc thuế trực thu và các sắc thuế gián thu. Các sắc thuế gián thu Là một bộ phận cấu thành giá hàng hóa hoặc dịch vụ do đơn vị vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh nộp tiền cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng phải chịu thuế. Số lượng người nộp thuế không đồng nhất. Ở nước ta thuộc loại thuế này 10 bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt….
Các sắc thuế trực thu Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế. Là sắc thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân, gồm các sắc thuế: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế TNCN, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp.Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế. Phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế. Vai trò của thuế đối với nhà nước * Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước: Nền tài chính quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu nội tại của nền kinh tế quốc dân.
Thuế được coi là quan trọng nhất vì tính ổn định của chúng. Khi nền kinh tế phát triển, nguồn thu nhập này tăng lên. Mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng thông qua các khoản thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như cho vay, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, các khoản thu khác. Hình thức thu ngoài thuế còn nhiều hạn chế, khó khăn bởi nhiều điều kiện trong nước và sự phụ thuộc quốc tế.
* Một công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Chính sách thuế, thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát và mở rộng lưu thông cho các thành phần kinh tế theo hướng phát triển có kế hoạch của nhà nước, quản lý, hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, góp phần tích cực điều chỉnh những mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. * Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm: Nhà nước đã vận dụng linh hoạt các chính sách thuế trong từng thời kỳ nhất định bằng cách tác động vào cung - cầu để điều chỉnh chu kỳ kinh doanh - một đặc 11 điểm cố hữu của nền kinh tế thị trường. Nội dung của quy định về thuế bao gồm hai khía cạnh: kích thích và hạn chế. Kích thích: Sử dụng các chính sách ưu đãi về thuế để áp dụng cho các vùng miền khác nhau, các ngành nghề ưu tiên phát triển kinh tế; Giảm thuế khi áp thuế đối với các mặt hàng tiêu dùng để kích thích tiêu dùng; khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản xuất.