Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA THUẾ 1. Những vấn đề chung về kiểm tra thuế 1. Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu kiểm tra thuế a. Khái niệm Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra.
Đặc điểm Kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, kiểm tra thuế có phạm vi rộng. Đối tượng kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành Thuế, là đối tượng nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế. Thứ hai, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế. Thứ ba, kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này.
Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng kiểm tra. Đồng thời, người cán bộ thuế cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất. Yêu cầu Công tác kiểm tra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây: Thứ nhất, kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, xử lý đúng người đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được SV: Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: CQ48/02.02 Học viện tài chính 5 Luận văn tốt nghiệp kiểm tra. Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của kiểm tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới đảm bảo được mục đích của công tác kiểm tra thuế, mới làm cho kiểm tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới có được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân.
Thứ hai, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến. Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng của công tác kiểm tra thuế vì thông qua đó phát huy được sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủ pháp luật. Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác kiểm tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước; ngăn chặn đúng lúc các hành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho nhà nước và nhân dân. Thứ ba, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa, loại trừ các hành vu trốn, lậu thuế.
Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác kiểm tra thuế; đạt được yêu cầu này thì công tác kiểm tra thuế mới làm tròn chức trách và nhiệm vụ của mình. Mục tiêu kiểm tra thuế - Tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế của người nộp thuế nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế. - Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế. - Thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế từ đó tránh gây phiền hà và tạp điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
SV: Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: CQ48/02.02 Học viện tài chính 6 Luận văn tốt nghiệp - Tạo sự thống nhất trong việc thực hiện công tác kiểm tra trong toàn ngành thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận, trốn thuế. - Nâng cao việc quản lý cán bộ kiểm tra thuế trong việc thực hiện nhiệm vụ được gia làm cơ sở đánh giá phân loại cán bộ kiểm tra. - Thực hiện cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế. Nguyên tắc kiểm tra thuế a.
Nguyên tắc tuân thủ pháp luật Kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế, nhăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động kiểm tra thuế. Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và cán bộ kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạnh mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất kỳ một cơ quan hoặc cá nhân nào. Kết luận kiểm tra theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật b.
Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan Đảm bảo tính trung thực chính xác khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác kiểm tra. Có như vậy mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thực, đánh giá sự vật hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một các thận trọng. SV: Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: CQ48/02.02 Học viện tài chính 7 Luận văn tốt nghiệp Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư; không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỷ mỷ,cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn.
Nguyên tắc công khai dân chủ Tính công khai trong kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân biết,dân bàn,dân làm,dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân. Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: công khai quyết định tiếp xúc công khai với các đối tượng có liên quan và công bố công khai kết luận kiểm tra. Tuy nhiên, tùy trường hợp cụ thể mà xác định phạm vi công khai và hình thức công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả kiểm tra cao nhất. Dân chủ trong hoạt kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc.
Dân chủ trong hoạt động kiểm tra nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là những tai mắt của lực lượng kiểm tra. Thực hiện nguyên tắc này phải coi trọng việc tiếp nhận thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra được trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân. Nguyên tắc bảo vệ bí mật Cần quán triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế là vì trong quá trình kiểm tra người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật quốc gia. Nếu để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp.
Do vậy, họ chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền biết. SV: Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: CQ48/02.02 Học viện tài chính 8 Luận văn tốt nghiệp e. Nguyên tắc hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó. Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiểu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế.
Vai trò của kiểm tra thuế Kiểm tra thuế có một số vai trò cơ bản sau: - Kiểm tra thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế. - Kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thu thuế. - Kiểm tra đối tượng nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện, giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà đến nhân dân và doanh nghiệp. Hình thức và nội dung kiểm tra thuế 1.
Hình thức kiểm tra thuế a. Phân loại theo thời gian Với tiêu thức phân loại này, kiểm tra được chia làm 2 loại: (1) Kiểm tra thường xuyên Thông thường chỉ có thể tiến hành kiểm tra thường xuyên, việc tiến hành kiểm tra thường xuyên chủ yếu là việc tự kiểm tra trong các đơn vị của ngành Thuế. (2) Kiểm tra bất thường (đột xuất) Hình thức kiểm tra này được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan có chức năng kiểm tra hoặc do lãnh đạo đơn vị đặt ra. SV: Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: CQ48/02.02 Học viện tài chính 9 Luận văn tốt nghiệp b.
Phân loại theo phạm vi Dựa vào tiêu thức này, kiểm tra được chia làm 2 loại, đó là: (1) Kiểm tra từng phần Hình thức kiểm tra này thường được áp dụng đối với một sắc thuế nhất định hoặc một phần của quy trình thu nộp. (2) Kiểm tra toàn phần Với hình thức kiểm tra này, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra toàn diện các mặt công tác của một cơ quan thuế, một cá nhân hoặc toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất cả các sắc thuế có liên quan của một đối tượng nộp thuế. Phân loại theo địa điểm tiến hành kiểm tra Theo tiêu thức phân loại này, kiểm tra thuế được chia thành 2 loại là: (1) Kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế) Với hình thức kiểm tra này, cơ quan thuế không đến làm việc tại cơ sở kinh doanh mà tiến hành kiểm tra các hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh tại cơ quan thuế.