chương 1 Qua tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm, vai trò cũng như điều kiện cần thiết để áp dụng thuế GTGT luận văn đã cung cấp những thông tin cơ bản, quan trọng từ đó giới thiệu khái quát nhất về thuế GTGT. Có thể thấy trong các loại thuế gián thu, thuế GTGT được coi là một trong những sắc thuế tiến bộ nhất hiện nay, có vai trò quan trọng trong hệ thống thuế của Việt Nam. Thuế GTGT được đánh giá cao do thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đặt ra của chính sách thuế như: tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đơn giản, trung lập, dễ thực hiện, ít bị trốn thuế, công bằng về mặt xã hội và có tác dụng khuyến khích, thúc đẩy nền kinh tế phát triển… Nếu áp dụng thuế GTGT trong môi trường đầy đủ các điều kiện thuận lợi thì không những phát huy tối đa những ưu điểm mà còn có thể hạn chế đến mức tối thiểu các nhược điểm của bản thân sắc thuế này. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung nhất về pháp luật thuế GTGT, đưa ra thông tin về khái niệm, đặc điểm cũng như các bộ phận cấu thành của pháp luật thuế GTGT sẽ là tiền đề để luận văn triển khai nghiên cứu thực trạng pháp luật thuế GTGT và làm rõ thực tiễn thực hiện pháp luật thuế GTGT trên địa bàn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh một cách cụ thể, chi tiết.
17 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2. Thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam 2. Thực trạng quy định về phạm vi áp dụng thuế giá trị gia tăng 2. Quy định về chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng Quan hệ pháp luật thuế GTGT là quan hệ pháp luật phát sinh giữa hai loại chủ thể, gồm người nộp thuế GTGT và cơ quản quản lý thuế GTGT.
Trong đó, chủ thể nộp thuế luôn đóng vai trò quan trọng, bởi lẽ việc thu thuế thành công hay thất bại phụ thuộc chủ yếu vào khả năng thực hiện nghĩa vụ thuế và mức độ tự giác tuân thủ pháp luật thuế GTGT của chủ thể này. Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế GTGT 2008: “người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu)”. Với quy định này, nhà làm luật đã đưa ra hai điều kiện, tiêu chí để xác định một tổ chức, cá nhân trở thành chủ thể nộp thuế GTGT: Một là, tổ chức, cá nhân có thực hiện một trong các hành vi như sản xuất hàng hóa; kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ. Điều kiện, tiêu chí này được nhà làm luật quy định cụ thể tại Điều 3 Thông tư số 219/2013/TT-BTC, theo đó chủ thể nộp thuế GTGT bao gồm các tổ chức, cá nhân sau đây: - Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác; - Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác; 18 - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư; các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam; - Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu; - Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân mua dịch vụ là người nộp thuế, trừ trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.
- Chi nhánh của doanh nghiệp chế xuất được thành lập để hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế. Hai là, hàng hóa, dịch vụ được tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hoặc nhập khẩu phải được tiêu dùng tại Việt Nam và không nằm trong danh mục hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT. Để chứng minh việc thỏa mãn điều kiện này, cơ quan thuế và người nộp thuế đều phải căn cứ vào danh mục hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT theo quy định tại Luật thuế GTGT 2008 để từ đó xác định xem tổ chức, cá nhân có sản xuất, kinh doanh hoặc nhập khẩu các hàng hóa thuộc diện chịu thuế GTGT hay không. Như vậy, nếu tổ chức, cá nhân nào thoả mãn hai điều kiện nêu trên sẽ là chủ thể nộp thuế GTGT cho Nhà nước.
Cũng giống như hầu hết các đạo luật thuế khác, Luật thuế GTGT chỉ quy định về chủ thể nộp thuế để đảm bảo sự rõ ràng, công khai, minh bạch về người phải nộp thuế chứ không chỉ rõ người chịu thuế là ai. Chính cách tiếp cận này đã góp phần khiến cho thuế GTGT tránh được sự phản ứng gay gắt từ những người thực sự chịu thuế (người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT). Từ đó khiến cho thuế GTGT dễ được chấp nhận hơn, dễ huy 19 động nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước. Quy định về đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng Theo quy định tại Điều 3 Luật thuế GTGT 2008, nhà làm luật xác định rõ: “Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này”.
Theo nguyên tắc của thuế GTGT thì mọi hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam đều thuộc đối tượng chịu thuế GTGT nhằm đảm bảo cho quá trình luân chuyển khấu trừ thuế GTGT được đồng bộ, thống nhất. Ngược lại, hàng hoá, dịch vụ không được tiêu dùng tại Việt Nam thì không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, tuỳ vào từng thời kỳ nhất định, Nhà nước điều chỉnh phạm vi tác động của thuế GTGT như là một biện pháp kinh tế để thực hiện một số chính sách kinh tế - xã hội như: ưu tiên đối với một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu; chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất; chính sách quốc phòng, an ninh; chính sách về giáo dục, y tế và văn hóa xã hội… Do đó, tại Điều 5 Luật thuế GTGT 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2016 đã quy định 26 nhóm hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT. Nhìn chung, các hàng hoá, dịch vụ này thường có một số tính chất cơ bản sau đây: - Hàng hoá, dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống cộng đồng, không đặt ra vấn đề phải điều tiết tiêu dùng như: dịch vụ y tế, dịch vụ thú y (khoản 9); dịch vụ bưu chính, viễn thông (khoản 10); dạy học, dạy nghề (khoản 13); vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện (khoản 16)… - Hàng hoá, dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu xã hội, nhân đạo, không mang tính chất kinh doanh như: hàng hóa nhập khẩu trong các trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng từ nước ngoài… (khoản 19); phát sóng phát thanh, truyền hình theo chương trình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước (khoản 14);… - Hàng hoá, dịch vụ của một số ngành cần khuyến khích phát triển như: + Sản xuất nông nghiệp: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, 20 đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu (khoản 1); sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng (khoản 2); phân bón, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp (khoản 3a); sản phẩm muối (khoản 4)… Có thể thấy bên cạnh tác dụng khuyến khích nông nghiệp phát triển thì một phần nhỏ lý do không đánh thuế GTGT là vì các sản phẩm này khó theo dõi, hạch toán thuế GTGT đầu ra, đầu vào; nếu đánh thuế thì chi phí quản lý hành chính thuế của ngành thuế và chi phí tuân thủ của người nộp thuế lớn, dẫn đến không hiệu quả về mặt xã hội.
+ Máy móc, thiết bị trong nước chưa sản xuất được phải nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ… (khoản 17). Chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, phần mềm máy tính (khoản 21). Mục đích của quy định này là khuyến khích ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, đổi mới, nâng cao cơ sở vật chất - yếu tố quan trọng để tăng năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh. - Hàng hoá nhập khẩu nhưng thực chất không phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam như: hàng chuyển khẩu, quá cảnh; hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng xuất khẩu, tái nhập khẩu (khoản 20)… - Hàng hoá, dịch vụ khó xác định giá trị tăng thêm, do đó khó xác định được thuế GTGT như: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi… (khoản 7); dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán (khoản 8).
- Hàng hoá mang tính chất phục vụ nhu cầu đặc biệt của Nhà nước hoặc cần bảo mật như: vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng an ninh (khoản 18). - Hàng hoá, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu từ 100 triệu đồng trở xuống (khoản 25) nhằm bảo đảm đời sống tối thiểu của người sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ. Về cơ bản, các hàng hoá, dịch vụ trên đều có những lý do phù hợp để nằm trong diện không chịu thuế GTGT. Chủ trương ưu đãi về thuế như trên là nhằm cụ 21 thể hoá mục tiêu phát triển, quản lý kinh tế - xã hội trong những giai đoạn nhất định.