Mở đầu. Chương này nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu của nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, trình bày phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu luận văn và ý nghĩa khoa học của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và Mô hình nghiên cứu. Chương này nêu các khái niệm, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng; Các tài liệu nghiên cứu trước và mô hình nghiên cứu đề nghị.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo, chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp thu thập dữu liệu và trình bày phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Mô tả mẫu nghiên cứu, trình bày kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá, kiểm định các giả thuyết và mô hình nghiên cứu, phân tích sự khác biệt theo đặc điểm cá nhân và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này trình bày kết luận chung của nghiên cứu, nêu ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, đề xuất hàm ý chính sách cho CCT huyện Phong Điền; đồng thời nêu hạn chế của đề tài và gợi ý nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Xuất phát từ vai trò của Nhà nước và tầm quan trọng của dịch công. Tác giả cho rằng, việc nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm xác lập mô hình cung ứng dịch vụ công phù hợp, đảm bảo các quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp trong tình hình hiện nay là hết sức cần thiết.
Bao gồm các khái niệm như: dịch vụ, chất lượng dịch vụ, dịch vụ hành chính công, chất lượng dịch vụ hành chính công, sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ hành chính công và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ công 2.1 Khái niệm về dịch vụ Hiện nay các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Cách hiểu về dịch vụ cũng không hoàn toàn thống nhất giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới. Vì lẽ đó trong Hiệp Định chung về thương mại dịch vụ (GATS), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn, trong mỗi ngành lớn lại bao gồm các phân ngành. Tổng cộng có 155 phân ngành với 4 phương thức cung cấp dịch vụ là: Cung cấp qua biên giới, tiêu dùng dịch vụ ngoài lãnh thổ, hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân.
Zeithaml & Britner (2000) cho rằng dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Cùng quan điểm, Kotler (2001) đã định nghĩa dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Từ các quan điểm khác nhau, có thể đưa ra một khái niệm về dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong các sản phẩm vô hình nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người.2 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội.
Do tính phức tạp nên hiện này có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng, có thể nhận thấy tùy theo hướng tiếp cận mà khái niệm chất lượng được hiểu theo các cách khác nhau, mỗi cách hiểu đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế. Một vài chuyên gia về chất lượng đã định nghĩa chất lượng dịch vụ được mô tả dưới đây. 6 Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa như sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan". Còn Zeithaml (1987) cho rằng Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể.
Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được. Còn theo Cronin & Taylor (1992) thì chất lượng dịch vụ là tiền tố quan trọng của thỏa mãn khách hàng. Sự thỏa mãn khách hàng ảnh hưởng đến quyết định sau khi mua, quyết định cảm nhận và quyết định tương lai. Các tác giả Parasuraman, Zeithaml and Berry (1985, 1988) cho rằng Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ.
Tóm lại, có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, nhưng nhìn chung người ta định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Mỗi khách hàng khác nhau, có cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khách nhau. Chất lượng dịch vụ thường được xem như một yếu tố tiên quyết, mang tính quyết định đến sự cạnh tranh để tạo lập và duy trì mối quan hệ với khách hàng.3 Khái niệm về dịch vụ hành chính công Dịch vụ hành chính công là loại hình dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tổ chức. Nói cách khác, dịch vụ hành chính công là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính-pháp lý của Nhà nước (Lê Chi Mai, 2006).
Chính phủ (2011), Nghị định 43/2011/NĐ-CP, Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý. Đây là loại hình dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân. Do vậy, cho đến nay đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công. Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước.
Để thực hiện chức năng này Nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch và nhiều dịch vụ khác. Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước. Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước. 7 Việc cung ứng dịch vụ công còn tác dụng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Khi cung cấp các dịch vụ này, Nhà nước sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng nhận, thị thực, … Xét về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này chỉ là các loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại có tác dụng chi phối quan trọng đến các hoạt động kinh tế-xã hội của đất nước. Ngoài ra, thông qua việc cung ứng dịch vụ công Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo quyền dân chủ và các quyền hợp pháp khác của công dân. Trên cơ sở phân tích hoạt động quản lý nhà nước và với các loại dịch vụ công trong các lĩnh vực phục vụ lợi ích công cộng, có thể thấy dịch vụ công là những hoạt động giải quyết những công việc cụ thể liên quan đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản cho các tổ chức và công dân được thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính - pháp lý của Nhà nước.4 Khái niệm về chất lượng dịch vụ công Dựa trên một số khái niệm, thuật ngữ, các nhà khoa học nghiên cứu áp dụng trong TCVN ISO 9001:2008 vào dịch vụ công như: Hệ thống chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, … Có thể hiểu chất lượng dịch vụ công là khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức và người dân về cung ứng dịch vụ hành chính công với sản phẩm cụ thể là các quyết định hành chính. Tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ này cũng rất đa dạng bao gồm: Tạo sự tin tưởng cho người dân khi tham gia sử dụng dịch vụ như hồ sơ được giải quyết đúng hẹn (dựa trên tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hẹn), không bị mất mác, thất lạc, tạo được sự tin cậy của người dân khi liên hệ giải quyết thủ tục hành chính.
Tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho việc giao dịch với các công cụ hỗ trợ cần thiết như: phòng làm việc khang trang, có máy lấy số thứ tự (đảm bảo tính công bằng), máy tính giúp xử lý hồ sơ nhanh chóng. Nhân viên có đủ kiến thức chuyên môn và lĩnh vực liên quan đảm bảo giải quyết công việc lĩnh vực mà mình phụ trách cùng với kỹ năng tác nghiệp chuyên nghiệp. Thái độ phục vụ lịch sự, tôn trọng người dân, không gây nhũng nhiễu, phiền hà người dân tham gia giao dịch. Linh hoạt, quan tâm và chia sẻ, giải quyết hợp lý hồ sơ của người dân.
Có sự gắn kết giữa người dân sử dụng dịch vụ và nhân viên giải quyết hồ sơ. Thủ tục hành chính đơn giản, gọn nhẹ, thời gian giải quyết hồ sơ hợp lý, đúng quy định của pháp luật. Các vấn đề liên quan đến chất lượng dịch vụ và tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công phù hợp với quy định của pháp luật, với quy định của tiêu chuẩn ISO, cụ thể là những quy định về sự cam kết của cơ quan hành chính; nhấn mạnh về 8 yêu cầu luật định; định hướng bởi khách hàng, thăm dò sự hài lòng của khách hàng, khắc phục phòng ngừa và cải tiến liên tục hệ thống chất lượng….