CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TRA THUẾ 1. Những vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế 1.1 Khái niệm kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế -xã hội (Luật Quản lý thuế số 78/2016/QH11 ngày 29/11/2006). Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu: Kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan thuế các cấp đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung là thuế). - Về mục đích: Điều 77, Luật Quản lý thuế quy định Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế; Điều 78 quy định Kiểm tra thuế tại trụ sở của doanh nghiệp; Kiểm tra thuế là nội dung quan trọng của quản lý thuế.
Mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. - Về chủ thể: Chủ thể kiểm tra thuế là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thường là cơ quan thuế. - Về đối tượng: Đối tượng kiểm tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. - Về nội dung: Kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp.
- Về phương pháp: Kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng một cách chính xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý vi phạm. Ngoài ra, hoạt động kiểm tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lý thuế. 3 Do vậy kiểm tra thuế là hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế.2 Đặc điểm của kiểm tra thuế Thứ nhất, đối tượng và nội dung kiểm tra thuế rộng, bao gồm mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế, được tiến hành ở tất cả các giai đoạn: Đăng ký, kê khai, nộp thuế và trên mọi sắc thuế của doanh nghiệp. Thứ hai, kiểm tra thuế là công tác khó khăn, phức tạp vì đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp.
Để bảo vệ lợi ích vật chất của mình, che giấu các hành vi trốn thuế, doanh nghiệp thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác kiểm tra của cơ quan thuế. Thứ ba, công tác kiểm tra thuế đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của cán bộ thuế. Người cán bộ thuế ngoài việc phải nắm chắc các luật thuế, còn phải am hiểu chế độ kế toán, các chuẩn mực kế toán, pháp luật thuế, kỹ năng tin học, kỹ năng đánh giá rủi ro và phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng kiểm tra mới có thể xác định đúng nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra thuế. Đồng thời, người cán bộ thuế phải có bản lĩnh vững vàng, ý thức trách nhiệm cao vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất.
Do đó, cơ quan thuế ngoài việc tăng cường lực lượng kiểm tra viên còn phải có kế hoạch xây dựng các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng đòi hỏi của hoạt động kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện đổi mới quản lý thuế. Thứ tư, hoạt động kiểm tra được thực hiện theo một quy trình cụ thể. Quy trình hóa hoạt động kiểm tra thuế được hiểu là việc xây dựng và chuẩn hóa trình tự thực hiện các bước công việc trong hoạt động kiểm tra thuế và trách nhiệm thực hiện các bước công việc đó của từng bộ phận, từng cán bộ tham gia quy trình. Quy trình hóa hoạt động kiểm tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của cơ quan thuế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, đáp ứng những yêu cầu trong điều kiện thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp nói riêng và thực hiện đổi mới quản lý thuế nói chung.3 Mục tiêu của kiểm tra thuế Hoạt động kiểm tra thuế nhằm giúp Doanh nghiệp và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành thuế.
Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của Doanh nghiệpnhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực. Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra, cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hiệu quả, hợp lý hơn. Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ doanh nghiệp nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế.4 Nguyên tắc kiểm tra thuế Nguyên tắc kiểm tra là tập hợp các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành động mà các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cán bộ, kiểm tra viên phải tuân theo trong quá trình hoạt động kiểm tra. Các nguyên tắc hoạt động kiểm tra chỉ đạo và chi phối mối quan hệ trong kiểm tra nhằm đảm bảo cho hoạt động kiểm tra đạt được mục đích đề ra.
Mục tiêu của kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của các doanh nghiệp góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục tiêu đã đề ra thì hoạt động kiểm tra thuế cần tuân thủ những nguyên tắc sau: Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan, cán bộ, công chức kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để kết luận, kiến nghị những vấn đề kiểm tra, không chịu tác động của bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận và kiến nghị của mình. Đây là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế; ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động kiểm tra thuế.
Thứ hai, nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan. 5 Nguyên tắc trung thực đòi hỏi hoạt động kiểm tra thuế phải tuân thủ các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp, phản ánh đúng thực tế sự việc, không thiện lệch, bóp méo sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế. Nguyên tắc chính xác đòi hỏi chủ thể kiểm tra phải nhận thức đúng vấn đề, nội dung kiểm tra; xác định, đánh giá chính xác bản chất của sự việc để kết luận, giúp cho việc xử lý sai phạm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tính chính xác đảm bảo cho công tác kiểm tra thuế đạt hiệu quả cao.
Nguyên tắc khách quan yêu cầu chủ thể kiểm tra thuế phải phản ánh đúng sự vật, hiện tượng vốn có, tôn trọng sự thật. Tính khách quan và chính xác có mối quan hệ tác động qua lại. Tính khách quan tạo tiền đề cho việc kết luận chính xác và kết luận kiểm tra có chính xác mới thể hiện được tính khách quan của hoạt động kiểm tra. Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác kiểm tra thuế.
Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác kiểm tra thuế thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người, đứng bản chất sự việc, đúng pháp luật. Thứ ba, nguyên tắc công khai, dân chủ. Tính công khai trong kiểm tra thuế thể hiện ở việc chủ thể kiểm tra thuế phải thông báo đầy đủ, công khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định kiểm tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng liên quan và công bố công khai kết luận kiểm tra. Việc công khai hoạt động kiểm tra nhằm nâng cao tính khách quan, hạn chế những tiêu cực phát sinh.
Tuy nhiên, tùy từng trường hợp cần có phạm vi, hình thức công khai phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật của doanh nghiệp, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả, kiểm tra cao nhất. Dân chủ trong hoạt động kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Dân chủ trong hoạt động kiểm tra nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là tai mắt của lực lượng kiểm tra. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra được trình bày ý kiến, quan điểm của mình.
Thứ tư, không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng kiểm tra. Việc cơ quan chức năng tổ chức tiến hành kiểm tra tại cơ sở kinh doanh là cần thiết nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của đối tượng bị kiểm tra. Mặt khác, do việc phân cấp quản lý còn chồng chéo nên một đối tượng có thể được nhiều ngành cùng quản lý, do đó có thể phát sinh nhiều đoàn kiểm tra cùng thời điểm hoặc trong thời gian ngắn. 6 Nguyên tắc này nhằm hạn chế tối đa những cuộc kiểm tra chồng chéo của các cơ quan quản lý, đảm bảo quyền hoạt động bình thường của đối tượng kiểm tra, đảm bảo cùng một nội dung, trong một năm đối tượng chỉ bị kiểm tra một lần.
Thứ năm, nguyên tắc bảo vệ bí mật. Trong quá trình kiểm tra, người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật quốc gia.