phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài có 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát hiệu quả thu thuế GTGT Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát hiệu quả thu thuế GTGT tại Chi cục Thuế huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng kiểm soát hiệu quả thu thuế GTGT tại Chi cục Thuế huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định e 11 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HIỆU QUẢ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Để hiểu rõ thuế GTGT trƣớc hết cần tìm hiểu về khái niệm giá trị gia tăng: GTGT là giá trị tăng thêm đối với một sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán hoặc dịch vụ tác động vào nguyên vật liệu thô hay hàng hóa mua vào, làm cho giá trị của chúng tăng thêm.
Nói cách khác, đây là số chênh lệch giữa “giá đầu ra” và “giá đầu vào” do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nƣớc đầu tiên trên thế giới ban hành Luật Thuế GTGT vào năm 1954. Khai sinh từ nƣớc Pháp, thuế GTGT đã đƣợc áp dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới. Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế GTGT.
Theo quan điểm chung của các quốc gia thì, thuế GTGT là một loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế đƣợc tính trên giá bán cuối cùng cho ngƣời tiêu dùng. Thuế GTGT do các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ nộp hộ ngƣời tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà ngƣời tiêu dùng phải trả cho ngƣời bán. Ngƣời tiêu dùng là ngƣời chịu thuế.
Ở Việt Nam, Thuế GTGT đƣợc hiểu là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng (Điều 2, Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12). Nhƣ vậy, xét về bản chất thuế GTGT là loại thuế gián thu. Các nhà sản xuất, e 12 kinh doanh và cung cấp dịch vụ là NNT nhƣng ngƣời tiêu dùng lại thực chất là ngƣời chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ. Đƣợc gọi là thuế GTGT vì thực chất thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở tất cả các khâu từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng chứ không tính trên toàn bộ giá trị của hàng hóa, dịch vụ đó.
Tổng số thuế thu đƣợc ở mỗi khâu chính bằng với số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT theo nhƣ quy định tại Điều 2 Luật Thuế GTGT đã trình bày, với bản chất là một loại thuế gián thu. Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là NNT nhƣng ngƣời tiêu dùng mới là ngƣời chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ. Là một loại thuế độc lập nên thuế GTGT cũng có một số đặc điểm cụ thể nhƣ sau: Thứ nh t, thuế GTGT là một sắc thuế thuộc lo i thuế gián thu.
Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện: ngƣời mua hàng hoá, dịch vụ là ngƣời phải trả khoản thuế này thông qua giá mua của hàng hoá, dịch vụ. Đối tƣợng nộp thuế GTGT là ngƣời cung ứng hàng hóa, dịch vụ, ngƣời chịu thuế là ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Với tƣ cách là ngƣời bán hàng, các nhà sản xuất, kinh doanh sẽ cộng số thuế GTGT vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà ngƣời mua phải trả khi mua hàng hóa, dịch vụ. Nhƣ vậy, ngƣời mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hoá và dịch vụ cho ngƣời bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT mà ngƣời mua trả.
Ngƣời bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp “đã đƣợc ngƣời mua trả” vào NSNN. Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị ê ô o vốn, nên không trùng lắ ế do ớ. Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình SXKD nhƣng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn.
Tổng số thuế thu đƣợc của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Do đó, thuế GTGT tránh đƣợc hiện e 13 tƣợng đánh thuế trùng lắp. Thứ ba, thuế GTGT có ph m vi thu r t rộng. Đối tƣợng thu toàn bộ các hoạt động SXKD kể cả gia công, chế biến và dịch vụ có thu tiền, nó thu vào các sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong nƣớc, kể cả hàng hóa nhập khẩu.Tuy nhiên, một số ít hoạt động kinh doanh cũng đƣợc miễn thuế GTGT, và số hoạt động miễn thuế này thay đổi tùy thuộc vào mỗi nƣớc.
Chính vì đƣợc thu trên diện rộng với thuế suất tƣơng đối thấp nên huy động đƣợc một phần thu nhập của ngƣời tiêu dùng vào NSNN trong quá trình chi tiêu. Thứ ế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. Thuế GTGT không chịu ảnh hƣởng bởi kết quả kinh doanh của ngƣời nộp thuế, do NNT chỉ là ngƣời “thay mặt” ngƣời tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu đƣợc cộng thêm vào giá bán của ngƣời cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Thuế GTGT không bị ảnh hƣởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình SXKD của ngƣời nộp thuế; bởi trong quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm đƣợc luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi. Mục tiêu của thuế GTGT không phải để trực tiếp điều chỉnh sự chênh lệch về thu nhập hay tài sản. Vì vậy thuế GTGT thƣờng có ít mức thuế suất, ít khi đặt ra vấn đề miễn giảm thuế, đảm bảo đơn giản, ít gây ra sự méo mó. Thứ ế GTGT có tính ch lũ o so ới thu nhập.
Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, ngƣời tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là ngƣời phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế nhƣ nhau. Nhƣ vậy, nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì ngƣời nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp hơn và ngƣợc lại. Thứ sáu, thuế GTGT có thuộc tính lãnh thổ quốc gia. Vì xét về phạm vi đánh thuế, thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, ngƣời tiêu dùng cuối cùng trong phạm vi lãnh thổ e 14 quốc gia là ngƣời chịu thuế.
Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Thông qua thuế Nhà nƣớc thực hiện hƣớng dẫn, điều tiết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối và phân phối lại, điều tiết thu nhập, giải quyết công bằng xã hội… Nền kinh tế nƣớc ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, do đó thuế GTGT có vai trò rất quan trọng và đƣợc thể hiện nhƣ sau: Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của NSNN. Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và đƣợc áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc đƣợc cung ứng dịch vụ, nên tạo đƣợc nguồn thu lớn và tƣơng đối ổn định cho NSNN.
Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản xuất hoặc nhập khẩu), đƣợc tính và thu vào ở tất cả các khâu của quá trình SXKD nên đảm bảo nguồn huy động kịp thời, tăng thu cho NSNN. Thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc khấu trừ thuế GTGT đƣợc thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy ngƣời mua phải đòi hỏi ngƣời bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động mua bán; khắc phục đƣợc tình trạng thông đồng giữa ngƣời mua và ngƣời bán để trốn lậu thuế. Ở khâu bán lẻ thƣờng xảy ra trốn lậu thuế, ngƣời tiêu dùng thƣờng không cần đòi hỏi hoá đơn, vì đối với họ không còn xảy ra việc khấu trừ thuế.
Tuy vậy, ở khâu bán lẻ cuối cùng, giá trị tăng thêm thƣờng không lớn, số thuế thu ở khâu này không nhiều. Thuế GTGT góp phần ổ ịnh giá cả, mở rộ l ô o. Với quan điểm của thuế GTGT là Nhà nƣớc chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lƣu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh. Nếu nhƣ không có các sự kiện biến động về tài e 15 chính, tiền tệ, sản xuất và lƣu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế GTGT sẽ không ảnh hƣởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh đƣợc hiện tƣợng “thuế chồng lên thuế” nhƣ khi áp dụng đối với Luật thuế doanh thu trƣớc đây.
Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, góp phần bảo hộ sản xuất trong nƣớc. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu không những không phải nộp thuế GTGT mà còn đƣợc khấu trừ hoặc hoàn lại số thuế GTGT đầu vào, nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế.