CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế và thuế giá trị gia tăng 1.1 Cơ sở lý luận về thuế 1.1 Khái niệm Theo Từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005): “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hay các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp. buộc phải nộp cho nhà nước theo quy định”. Trong Từ điển Kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên góc độ đối tượng chịu thuế cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính Phủ đánh trên thu nhập của cái và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và tài sản”.
Một khái niệm khác nêu trong cuốn sách “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ dựa trên cơ sở đối giá như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền hoặc hàng hóa dịch vụ của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt hành vi vi phạm pháp luật”. Theo Giáo trình Luật Thuế Việt Nam (2005). Đà Nẵng: Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội thì thuế bao gồm một số các đặc điểm như sau: Tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính vốn có của thuế để phân biệt thuế với các hình thức tài chính khác của NSNN. Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những hình thái tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt.
Phân phối dưới hình thức mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một hình thức phân phối thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của công dân. 6 Tính không hoàn trả trực tiếp: Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: Thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thực hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế nhà nước không hề cung ứng bất kỳ một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế.
Sau khi nộp thuế nhà nước cũng không có sự bồi hoàn nào cho người nộp thuế. Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật.2 Bản chất của thuế Bản chất của Nhà nước quy định bản chất của thuế. Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển.
Khi nghiên cứu về thuế, người ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác của nhà nước. Những đặc điểm đó là: Thứ nhất, Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự. Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN. Thứ hai, Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn đúng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó, như là một khoản vay mượn. Nó sẽ được hoàn trả lại cho NNT thông qua cơ chế đầu tư của NSNN. Thứ ba, Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản.3 Vai trò của thuế Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 7 - Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước: Ngân sách Nhà nước được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhưng thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN. - Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Để tạo sự công bằng trong xã hội, nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập của xã hôi.
Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này. - Thuế là công cụ để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh: Qua công tác quản lý thu thuế, nhà nước có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. - Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển: Nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số ngành nghề, vùng kinh tế đặc thù để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý.4 Chức năng của thuế - Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập. Ngay từ khi ra đời đến nay thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước.
Người ta gọi công dụng này là chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế. Thông qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹ bằng tiền tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Do đó chức năng này còn được gọi là chức năng phân phối của thuế.
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế được Nhà nước vận dụng dẫn đến kết quả là diễn ra quá trình “Nhà nước hóa” một bộ phận GDP dưới hình thức tiền tệ; tạo điều kiện khách quan vô cùng cần thiết cho sự can thiệp của Nhà nước vào các 8 hoạt động kinh tế. Do đó, chính chức năng phân phối và phân phối lại, trong một chừng mực rất đáng kể, đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế. - Chức năng điều tiết + Điều tiết kinh tế: Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng. Trong đó, thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính và là một công cụ sắc bén nhất được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
+ Điều chỉnh chu kỳ kinh tế: Để điều tiết chu kỳ kinh tế có hiệu quả, thông thường các Nhà nước dựa vào việc áp dụng các loại thuế có mức ổn định tự động cao, điển hình là thuế đánh trên thu nhập theo biểu thuế lũy tiến. Tuy nhiên, cũng có Nhà nước dùng biện pháp điều chỉnh chính sách theo từng thời kỳ bằng cách hạ hay tăng thuế suất đánh vào những hoạt động chủ yếu để tác động đến toàn bộ nền kinh tế. + Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý: Bằng việc ban hành hệ thống chính sách thuế, Nhà nước sẽ quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với mức thuế suất cao hoặc thấp vào các ngành nghề, các mặt hành cụ thể. Thông qua đó Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển của những ngành kinh tế quan trọng hoặc san bằng tốc độ phát triển tăng trưởng giữa chúng, đảm bảo sự cân đối hài hòa giữa các ngành trong nền kinh tế.
+ Điều chỉnh tích lũy vốn: Việc thay đổi chính sách thuế của Nhà nước có thể ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ tích lũy vốn và do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế. + Sử dụng thuế để bảo hộ sản xuất trong nước: Bất kỳ Nhà nước nào cũng quan tâm và có trách nhiệm hơn với các nhà đầu tư là công dân của mình, để giúp họ có thể yên tâm đầu tư, kinh doanh có hiệu quả ngay trên đất nước của họ. Vì vậy xu thế bảo hộ cho các nhà đầu tư trong nước, cũng như khuynh hướng bảo hộ những ngành nghề sản xuất truyền thống của dân tộc là một tất yếu buộc mọi nhà nước phải quan tâm bằng nhiều biện pháp và về lâu dài tránh được việc phụ thuộc vào nước ngoài về hàng hóa. 9 + Thuế điều tiết tiêu dùng: Việc áp dụng các mức thuế gián thu phân tầng như thuế nhập khẩu, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt,.
sẽ làm giảm cầu với những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cho là cần phải hạn chế hoặc nên ưu đãi. + Thuế thực hiện điều tiết xã hội: Nền kinh tế hàng hóa phát triển kéo theo đó là sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng. Trong bối cảnh đó, thuế, đặc biệt là các loại thuế thu nhập giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng và làm giảm khoảng cách phân hóa giàu nghèo. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng công cụ thuế là một trong những công cụ rất nhạy cảm đối với nền kinh tế.
Vì vậy, trong cả hai tình huống của nền kinh tế không phải bao giờ sử dụng công cụ thuế cũng đều thành công. Do đó, để đưa nền kinh tế ổn định tương đối, cùng với thuế phải sử dụng kết hợp đồng bộ với các công cụ khác một cách nhịp nhàng.5 Hệ thống thuế Hệ thống thuế là một khái niệm đang có nhiều quan niệm khác nhau. Với những giác độ tiếp cận khác nhau, người ta hình dung hệ thống thuế cũng rất khác nhau. Quan niệm hệ thống thuế được thay đổi và phát triển theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội.