phần mở đầu giới thiệu chung thì luận văn gồm có 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý thuế giá trị gia tăng Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận Cầu Giấy Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận Cầu Giấy 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Nghiên cứu về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT đã có nhiều đề tài do nhiều tác giả thực hiện, mỗi đề tài đều có sự khác biệt nhất định về mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, cách tiếp cận. Qua thời gian nghiên cứu, tác giả đã thu thập đƣợc một số nghiên cứu, đề tài liên quan đến quản lý thuế GTGT nhƣ sau: (1) Trần Thị Mỹ Dung, 2012. Tăng cường kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại chi cục thuế quận Cẩm Lệ.
Luận văn Thạc sĩ, Trƣờng đại học Đà Nẵng. Làm rõ ý nghĩa của việc tăng cƣờng kiểm soát thuế GTGT, nêu lên thực trạng của hoạt động kiểm soát thuế GTGT tại chi cục thuế quận Cẩm Lệ. Trên cơ sở đó đƣa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cƣờng công tác kiểm soát thuế GTGT. Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới.
Luận văn thạc sỹ kinh tế. Tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề chung nhất về thuế và quản lý thuế, phân tích thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế ở Việt Nam. Qua nghiên cứu các công trình trên, tác giả đã kế thừa một số nội dung có tính lý luận về thuế giá trị gia tăng và quản lý thu thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên các đề tài này không đi sâu đến vấn đề tăng cƣờng quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội.
Vấn đề quản lý thuế GTGT tại các Chi cục thuế không phải là vấn đề mới nhƣng đề tài “Quản lý thuế giá trị gia tăng tại Chi cục thuế quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” thì từ trƣớc đến nay chƣa có nghiên cứu nào đƣợc công bố. Việc đƣa ra cơ sở lý luận, phân tích thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội và đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT tại đơn vị này sẽ có giá trị lý luận và thực tiễn cao.2 Cơ sở lý luận về quản lý thuế giá trị gia tăng 1.1 Khái niệm của quản lý thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nƣớc đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT năm 1954. Thuế GTGT theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắt là TAV), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), dịch ra tiếng việt là thuế giá trị gia tăng. Khai sinh từ nƣớc Pháp, thuế GTGT đã đƣợc áp dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế GTGT. Ở nƣớc ta, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khóa 9 đã thông qua luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành ngày 01-01-1999. Theo Điều 2 của Luật thuế GTGT 2008 thì thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Ngƣời sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm thu và nộp hộ ngƣời tiêu dùng.
Ngƣời tiêu dùng mua sản phẩm với giá đã có thuế GTGT, vì vậy ngƣời tiêu dùng mới là ngƣời chịu khoản thuế này. Quản lý đƣợc thực hiện bằng 3 loại chủ yếu: biện pháp kinh tế, biện pháp hành chính, biện pháp giáo dục. Quản lý đƣợc thực hiện bằng nhiều hình thức tác động nhƣ: lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, khen thƣởng, xử phạt, kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, thanh tra giám sát, đúc rút kinh nghiệm phổ biến và nhân rộng mô hình, cách làm tiên tiến có hiệu quả, kịp thời bãi bỏ những cái đã lạc hậu, lỗi thời. Quản lý là khoa học, một dạng nghệ thuật và ngày càng đƣợc đề cao.
Trong tác phẩm “An ninh tài chính quốc gia” – Nhà xuất bản Tài chính, tháng 7/2004, trang 15, Giáo sƣ, Tiến sĩ khoa học Tào Hữu Phùng dẫn “Theo giới tài chính quốc tế, ổn định tài chính (Financial Stability) là cực kỳ quan trọng đối với tăng trƣởng kinh tế…nếu quản lý kinh tế vĩ mô mạnh (Sound management) nhƣng hệ thống tài chính yếu thì có thể làm mất ổn định kinh tế. Trong tập luật lệ (Chế độ mới về quản lý tài chính, 2001), trong số 52 văn bản dƣới luật đều đề cập tới quản lý, đƣợc xem là cách thể hiện bản chất, chức năng của công cụ tài chính, thuế trong giai đoạn hiện nay. Tại Luật quản lý thuế, trong đó quan trọng là Luật Thuế GTGT (2007) quy định cụ 5 z thể nguyên tắc, nội dung, phƣơng pháp quản lý thuế. Từ sự phân tích trên, khái niệm về quản lý thuế GTGT đƣợc xác định nhƣ sau: Quản lý thuế GTGT là hoạt động, tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế GTGT chấp hành nghĩa vụ nộp thuế GTGT vào NSNN theo quy định của Pháp luật.
Thuế GTGT là một trong nhiều sắc thuế hiện hành ở nƣớc ta. Quản lý thuế GTGT là một loại quản lý trong khuôn khổ chức trách nhiệm vụ nhà nƣớc giao cho ngành thuế, một cơ quan trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nƣớc. Quản lý thuế GTGT là hệ thống các biện pháp nghiệp vụ, biện pháp công tác của cơ quan thuế và toàn xã hội nhằm vào việc thực hiện tốt nhất Luật thuế GTGT, đảm bảo nguồn thu ổn định vào NSNN với hiệu quả cao và thuận lợi cho NNT. Vai trò chủ thể của quản lý thuế GTGT là hệ thống các cơ quan quản lý thuế các cấp: Tổng cục thuế, Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng, các Chi cục thuế ở cấp quận, huyện, các tổ thuế ở các xã, phƣờng, ấp.
Quản lý thuế GTGT động chạm đến nghĩa vụ, quyền lợi của NNT đồng thời dễ gây xung đột, mâu thuẫn, khiếu kiện. Quản lý thuế GTGT gắn liền với “Tuyên ngôn ngành thuế” và gắn liền với việc thực hiện hiệu lực của pháp luật.2 Vai trò của quản lý thuế giá trị gia tăng - Tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các thành viên, rút ngắn từng khâu công việc, từng công đoạn. Phối hợp giữa sức lao động của ngƣời với máy móc, công cụ, phƣơng tiện một cách hài hòa, ăn ý, phát huy cao nhất lực lƣợng sản xuất, hình thành quan hệ sản xuất tiên tiến, hiệu quả. - Hạn chế, ngăn ngừa mọi tiêu cực, mọi lực cản quá trình đi lên của xã hội.3 Đặc điểm của quản lý thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc, nhằm đáp ứng nhu cầu huy động ngân sách ngày càng lớn của Nhà nƣớc.
Thuế GTGT là nguồn thu kịp thời và chiếm tỷ trọng lớn tron tổng thu ngân sách Nhà nƣớc và có đặc điểm sau: Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp: Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhƣng chỉ 6 z tính trên phần giá trị gia tăng. Tổng số thuế thu đƣợc ở tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao: thuế GTGT không bị ảnh hƣởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của ngƣời nộp thuế, sản phẩm đƣợc luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi. Thuế GTGT là một loại thuế gián thu: đối tƣợng nộp thuế là ngƣời cung ứng hàng hóa, ngƣời tiêu dùng hàng hóa là ngƣời phải trả các khoản thuế đó không phân biệt ngƣời đó có thu nhập cao hay thấp.
Thuế GTGT có tính lãnh thổ: đối tƣợng chịu thuế là ngƣời tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Thuế GTGT có đối tƣợng chịu thuế rất rộng: Có thể nói, tất cả cá thành phần trong xã hội, từ cá nhân đến tổ chức, từ ngƣời nghèo đến ngƣời giàu,…đều là chủ thể chịu thuế khi học có hành vi tiêu dùng. Điều này tạo nên sự công bằng của thuế, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nƣớc đối với các loại tiêu dùng trong xã hội. Thuế GTGT tăng cƣờng tính dân chủ.
Thuế GTGT đƣợc thể hiện rõ bên cạnh giá bán làm cho ngƣời tiêu dùng biết rõ sự đóng góp của mình vào ngân sách Nhà nƣớc thông qua việc tiêu dung, đó là biểu hiện của dân chủ và công khai. Số thuế GTGTchiếm tỉ lệ cao trong tổng thu ngoài quốc doanh. Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao: Thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Hoạt động quản lý thuế GTGT có cơ chế, quy ƣớc, quy trình khoa học Hoạt động nộp thuế GTGT có thí điểm, làm thử, nhân rộng mô hình tốt Có kiểm tra, giám sát, tổng kết đánh giá và xử lý bao gồm cả khen thƣởng, kỷ luật với NNT GTGT và ngƣời thực thi nhiệm vụ quản lý thuế GTGT.
Quản lý thuế GTGT đƣợc đánh giá sự thành công dựa trên kết quả hoạt động thực tiễn.4 Nội dung chủ yếu về quản lý thuế giá trị gia tăng 1.1 Hệ thống chính sách thuế Các quy định về phân cấp, phân công quản lý (có loại do Trung ƣơng trực tiếp quy định, do Cục thuế trực tiếp quy định, có loại do Chi cục trực tiếp quy định). Tất cả đều chi phối quản lý thuế GTGT. Xem xét hệ thống các quyết định phân cấp, phân công quản lý thuế mà Chi cục thuế đảm nhận theo quy định của Tổng cục Thuế, của UBND thành phố Hà Nội. Xem xét cơ cấu tổ chức của Chi cục, năng lực nghiệp vụ của các tổ đội, tổ công tác để thực hiện nhiệm vụ, kể cả phƣơng tiên, công cụ hành nghề.
Phát hiện những khâu yếu, cản trở việc thực hiện Luật Thuế GTGT. Luật thuế do Quốc hội quyết định bao gồm: đối tƣợng, biểu thuế, thuế suất.