phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế 7 Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế thành phố Huế Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế thành phố Huế 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm Thuế GTGT (hay còn gọi là VAT-Value Added Tax) đƣợc áp dụng đầu tiên tại Pháp với tên gọi là TVA (Taxe Sur la Valeur Ajoutee).
Lúc đầu, thuế GTGT chỉ đƣợc áp dụng cho lĩnh vực sản xuất trong một sốngành nghềcá biệt với mức thuếsuất là: 16,8%. Mãi đến 1968, thuếGTGT mới đƣợc áp dụng cho mọi lĩnh vực với 4 mức thuế suất là: 6,4-13,6-20 và 25%. Sau một thời gian sửa đổi, đến năm 1986 thì 4 mức thuế suất đó đƣợc thay đổi thành: 5,5-7-18,6 và 33,3%. Từ đó thuế GTGT đã nhanh chóng đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của Chính phủ nhiều nƣớc.
Ở nƣớc ta, tại kỳ họp lần thứ11 Quốc hội khoá IX, Quốc hội nƣớc ta đã thông qua Luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-1999. Thuế GTGT(Value Added Tax) là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trịtăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Đối tƣợng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ởViệt Nam. Thuế GTGT ra đời nhằm khắc phục việc đánh thuế trùng lặp của thuế doanh thu, nó chỉ đánh vào giá trị tăng thêm (đƣợc thể hiện bằng tiền lƣơng, tiền công, lợi nhuận, lợi tức và các khoản chi phí tài chính khác) của các sản phẩm, dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất và lƣu thông, làm sao để đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thì tổng số thuế thu đƣợc ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính theo giá bán cho ngƣời cuối cùng 9 Theo Luật thuế GTGT ViệtNam năm 2008: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thu hàng hóa, dịch vụ” [19, Điều 2].
Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Căn cứ vào những tác động đến sản xuất kinh doanh, ngƣời nộp thuế (NNT) và đối tƣợng chịu thuế, Thuế GTGT có một số đặc điểm nổi bật sau: Thứ nhất, Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhƣng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn.Tổng số thuế của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Thứ hai, Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm vào ngoài giá bán của ngƣời cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Thuế GTGT không bị ảnh hƣởng trực tiếp bởi kết quả sản xuất kinh doanh của NNT. Thứ ba, Thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu. NNT GTGT là ngƣời cung cấp hàng hoá, dịch vụ, ngƣời chịu thuế là ngƣời tiêu dung cuối cùng. Thuế GTGT là một khoản tiền đƣợc cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ mà ngƣời mua phải trả khi mua hàng.
Thứ tư, Thuế GTGT có tính luỹ thoái so với thu nhập. Thuế GTGT đánh vào hàng hoá, dịch vụ, ngƣời tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ là ngƣời phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế nhƣ nhau, nhƣvậy nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì ngƣời nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp hơn và ngƣợc lại. Thứ năm, Thuế GTGT có tính lãnh thổ, đối tƣợng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ đƣợc tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Một là, Thuế GTGT không làm tăng giá cả hàng hóa.
Bản chất thuế GTGT không làm tăng giá vì nó thay thế thuế doanh thu đã đƣợc kết cấu vào trong giá. Điều này cũng đòi hỏi các cơ quan quản lý các cấp từ trung ƣơng đến địa phƣơng phải có biện pháp quản lý hƣớng dẫn kịp thời và đúng đắn việc thực hiện thuế GTGT. Tránh tình trạng một số doanh nghiệp hay hộ kinh doanh chƣa hiểu rõ, có thể sẽ cộng thêm thuế GTGT vào giá để bán làm giá cả hàng hoá tăng thêm. Thuế GTGT tạo nên môi trƣờng công bằng, qua đó góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lƣu thông hàng hóa, dịch vụ.
[13] Hai là, Thuế GTGT có thể khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của thuế doanh thu là không thu trùng lắp thuế chỉ thu vào phần giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ qua các khâu từ quá trình sản xuất, lƣu thông hàng hóa cho đến tiêu dùng, nên có tác động tích cực đối với sản xuất dịch vụ, mặt khác giúp cho giá cả hàng hóa, dịch vụ đƣợc xác định hợp lý và chính xác hơn, góp phần ổn định giá cả, khuyến khích và thúc đẩy sản xuất, lƣu thông hàng hóa. Đồng thời việc thực hiện thuế GTGT còn đòi hỏi các doanh nghiệp của tất cả các thành phần kinh tế phải tăng cƣờng quản lý đổi mới công nghệ, nâng cao chất lƣợng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trong tình hình mới. [13] Ba là, Thuế GTGT huy động một phần thu nhập của ngƣời tiêu dùng vào NSNN, góp phần hình thành khoản thu lớn vào ổn định cho NSNN. Với phạm vi áp dụng rộng trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, đối tƣợng nộp thuế và chịu thuế đều dễ dàng chấp nhận, tính tập trung của thuế, các yếu tố trên tạo tiền đề để thuế GTGT thực hiện vai trò này một cách rõ rệt trên thực tế.
Bốn là, Thuế VAT tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc khấu trừ thuế GTGT đƣợc thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy ngƣời mua phải đòi hỏi ngƣời bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động mua bán; khắc phục đƣợc tình trạng thông đồng giữa ngƣời mua và ngƣời bán để trốn lậu thuế. 11 Năm là, Thuế GTGT sẽ khuyến khích đầu tƣ trong nƣớc, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại. Thuế GTGT không đánh vào hoạt động đầu tƣ tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT phải trả lại khi mua sắm tài sản cố định sẽ đƣợc Nhà nƣớc cho khấu trừ hoặc hoàn lại thuế GTGT cho doanh nghiệp.
Sáu là, Thuế GTGT sẽ góp phần khuyến khích xuất khẩu, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh hàng hoá xuất khẩu, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Luật thuế GTGT qui định hàng hoá xuất khẩu đƣợc hƣởng thuế suất 0% và đƣợc hoàn thuế GTGT đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, khuyến khích xuất khẩu và tạo điều kiện để hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hóa tƣơng tự của các nƣớc trên thị trƣờng quốc tế. Việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ góp phần bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nƣớc. Kết hợp với cơ chế điều hành xuất nhập khẩu hàng hoá, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế tiêu dùng, nhất là hàng tiêu dùng cao cấp từ nƣớc ngoài, thực hiện tiết kiệm cho sản xuất.
Đối với vật tƣ, nguyên vật liệu nhập khẩu vẫn thực hiện thu thuế GTGT khi hàng nhập về, nhƣng đã có xem xét điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu để ổn định sản xuất trong nƣớc. Thuế GTGT còn góp phần cơ cấu lại nền kinh tế từ sản xuất thay thế nhập khẩu chuyển mạnh sang sản xuất hƣớng xuất khẩu. Thuế GTGT sẽ khuyến khích việc sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng nƣớc ta có thế mạnh nhƣ nông sản, lâm sản, thuỷ sản. bằng các qui định cụ thể nhƣ không thu thuế GTGT đối với hàng do ngƣời sản xuất bán ra, cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các cơ sở chế biến, hoàn thuế đầu vào cho các cơ sở xuất khẩu các mặt hàng này nếu có hoá đơn GTGT đầu vào.
Bảy là, Thuế GTGT góp phần tăng cƣờng công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hóa có hóa đơn chứng từ. Kỹ thuật tính thuế 12 GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy ngƣời mua và ngƣời bán thực hiện tốt hơn chế độ hóa đơn, chứng từ. Góp phần thực hiện hệ thống chính sách thuế ở nƣớc ta phù hợp với sự vận động và tăng trƣởng của nền kinh tế thị trƣờng, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nƣớc khác trên thế giới. Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng Theo Luật Thuế GTGT đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008.
Tiếp đến là các Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật thuế GTGT, lần gần nhất Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế, có thể khái quát nội dung luật thuế giá trị gia tăng nhƣ sau: - Ðối tƣợng chịu thuế GTGT là các loại hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tƣợng không thuộc diện chịu thuế theo quy định cuả Luật thuế GTGT và các văn bản pháp luật hƣớng dẫn thi hành. Đối tƣợng nộp thuế GTGT, các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (gọi chung là ngƣời nhập khẩu).