CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH TUÂN THỦ THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về tuân thủ thuế Tuân thủ thuế luôn là vấn đề được các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý quan tâm. Chính vì vậy, đã có không ít các công trình nghiên cứu ở nước ngoài tập trung xem xét các khía cạnh lý luận và thực tiễn của việc tuân thủ thuế.
Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau (được sắp xếp theo thứ tự thời gian): 1. Ann Dryden Witte (Wellesley University), Helen Tauchen (University of North Carolina) (1987): Tax compliance research: Model, Data and Methods. Công trình nghiên cứu, xem xét những vấn đề về mô hình, dữ liệu và phương pháp thúc đẩy tính tuân thủ thuế ở NNT. Về mô hình lý thuyết, công trình cho rằng, khi đưa ra các quyết định về báo cáo thuế, NNT thường tìm cách tối đa hóa lợi ích của mình, trong đó cách thức đơn giản nhất là không khai thuế.
Tần suất kiểm tra, mức độ xử phạt và cả tỷ lệ thuế suất đều có tác động mạnh đến hành vi tuân thủ thuế của NNT. Công trình cũng đã xây dựng mô hình nghiên cứu, đánh giá mối quan hệ giữa tần suất kiểm tra, mối quan hệ giữa CQT và NNT, lựa chọn đối tượng kiểm tra với mức độ tuân thủ thuế. Công trình cũng cho rằng, hầu hết dân chúng đều “có nguy cơ” không tuân thủ thuế. Để quản lý được hành vi tuân thủ thuế, CQT cần yêu cầu NNT cung cấp các báo cáo chi tiết về các hoạt động chịu thuế hàng năm, ngoài ra, người sử dụng lao động và những người khác cũng được yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về thanh toán của họ cho NNT.
Đồng thời, cần nghiên cứu kỹ các chi tiết liên quan đến dữ liệu tờ khai thuế và cách mà hệ thống thuế được quản lý [50]. (1998): Tax compliance, Journal of Economic Literature, Vol XXXVI, pp818 - 860. Bài báo này đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế của Hiệp hội kinh tế Mỹ năm 1998. Bài viết đề cập đến các vấn đề về tuân thủ thuế.
Trong đó, tác giả cho rằng việc tuân thủ thuế sẽ được thực thi tốt nhất khi sử dụng thuế thân. Đối với tất cả các quốc gia, việc quan sát, xem xét các đặc trưng của các mô hình không tuân thủ thuế để có phương pháp làm giảm thiểu sự không tuân thủ đó là một phương thức quan trọng. Trong đó, cần xem xét đầy đủ các khía cạnh của việc tuân thủ thuế 7 như các góc độ tài chính công, hội nhập kinh tế, lãi suất, lạm phát, quá trình thực thi pháp luật thuế, quá trình hình thành tổ chức, cung cấp lao động, quản trị tổ chức hay cả góc độ đạo đức… hoặc là sự kết hợp của tất cả các yếu tố đó. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các góc độ khác nhau trong việc hạn chế sự không tuân thủ thuế.
Trong đó, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng chính sách thuế với mức điều tiết hợp lý, vai trò của kiểm tra, thanh tra thuế… [49] 3. Cash Economy Task Force (1998): Improving Tax compliance in the cash economy, Australia Task office, Canberra. Công trình này đã đề xuất các biện pháp quan trọng để nâng cao sự tuân thủ thuế trong điều kiện nền kinh tế sử dụng hình thức thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt. Khi đó, cần áp dụng đồng thời các biện pháp như cung cấp dịch vụ hỗ trợ NNT cũng như các biện pháp cưỡng chế.
Đó là việc khuyến khích sử dụng thẻ tín dụng, quay xổ số hóa đơn, ưu đãi các DN lưu giữ sổ sách kế toán tốt… Bên cạnh đó, cần tiến hành đồng thời các biện pháp tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong đối chiếu số liệu về đối tượng nộp thuế, theo vết các giao dịch qua từng nhà cung cấp, trao đổi thông tin với CQT nước ngoài… [54] 4. (2001): A new approach to Tax compliance, Working paper, pp2-11, Centre for tax system integrity, the Australian National University, Canberra. Công trình này đã nghiên cứu một cách đầy đủ về tuân thủ thuế từ mối quan hệ giữa CQT với cộng đồng, các mô hình tuân thủ khác nhau và chiến lược quản lý của CQT theo các mô hình tuân thủ đó. Công trình đã đưa ra tháp tuân thủ, trong đó, số lượng NNT được chia thành 4 nhóm tương ứng với mức độ tuân thủ pháp luật của họ và cơ quan quản lý thuế có các biện pháp tương ứng đối với từng nhóm NNT này để đảm bảo sự tuân thủ thuế tốt nhất.
Trong mô hình tháp tuân thủ, khi NNT ở vị trí dưới cùng của các kim tự tháp, lúc này NNT và CQT có sự hợp tác, cam kết và tự điều chỉnh để thực thi các nội dung về thuế. Khi xung đột di chuyển lên các nấc trên của kim tự tháp, NNT mất đi sức mạnh thuyết phục đối với CQT và CQT dần chuyển sang chế độ yêu cầu mệnh lệnh và kiểm soát. Do đó, trong quản lý tuân thủ, việc phân loại, sắp xếp NNT theo các nhóm phụ thuộc vào mức độ tuân thủ của họ để thực thi các hành vi quản lý tương ứng là rất cần thiết. Mô hình trong công trình này đã trở thành một lý thuyết quản lý hiện đại đã được nhiều quốc gia vận dụng, đó là quản lý tuân thủ [53].
Sarker (AISA - PACIFIC TAX BULLETIN Vol. 6 JUNE 2003, International Bureau of Fiscal Documentation): Improving Tax Compliance in Developing Countries via Self - Assessment Systems - What Could Bangladesh Learn from Japan? Công trình này cho rằng, hiện nay, mối quan tâm ngày càng tăng của các quốc gia trên toàn thế giới là làm thế nào để đơn giản hóa hệ thống kê khai thuế để khuyến khích tuân thủ tự nguyện, và nhiều quốc gia đã áp dụng hệ thống tự tính thuế (Self - Assessment Systems - SAS) như là một giải pháp. Công trình giới thiệu những nét chung và lợi ích của SAS. Trong đó, NNT tự kê khai và tự xác định nghĩa vụ thuế của mình.
Trên cơ sở đó, CQT xem xét, lựa chọn đối tượng thanh tra thuế. SAS có các ưu điểm chính là: (i) SAS đảm bảo được tính hiệu quả hơn vì nó chỉ chọn các trường hợp đặc biệt để giám sát; (ii) SAS loại bỏ tính chất hành chính của hoạt động kê khai, tính thuế; (iii) SAS thúc đẩy việc nộp thuế đầy đủ và kịp thời hơn; và (iv) SAS giảm tham nhũng bằng cách giảm tiếp xúc với đối tượng nộp thuế. Công trình xem xét quá trình thực hiện SAS ở Bangladesh và Nhật Bản, trong đó, tập trung quá trình thực hiện SAS và công tác quản lý thuế của Nhật Bản. Theo nghiên cứu, mức độ tuân thủ thuế tại Nhật Bản là rất cao, và trong những năm gần đây, sự tuân thủ thuế của công ty đã được nhiều hơn 90%.
Lý do chính của việc tuân thủ thuế cao ở Nhật Bản là do sự nỗ lực của Cục thuế quốc gia Nhật Bản (NTA). Ở Nhật Bản, SAS đã được giới thiệu vào năm 1947 đóng một vai trò quan trọng, vì trách nhiệm tính toán, báo cáo và nộp nghĩa vụ thuế là về NNT. Các biện pháp thực hiện bởi NTA nhằm thúc đẩy những nguyên tắc tuân thủ tự nguyện là: Quan hệ công chúng; giáo dục Thuế; tư vấn thuế; và hướng dẫn và kiểm tra. Đây được gọi là bốn trụ cột của tuân thủ thuế tại Nhật Bản.
Quan hệ công chúng: Mục đích của quan hệ công chúng là xây dựng một môi trường có ý thức thuế không chỉ giữa NNT mà còn trong số công chúng bao gồm cả NNT tiềm ẩn, và có thể được phân loại như sự cần thiết để nhằm các mục tiêu sau: Tăng cường sự tuân thủ thuế; lan tỏa và nâng cao kiến thức của công chúng về thuế; cải thiện sự hiểu biết lẫn nhau, sự tin tưởng giữa NNT và CQT từ đó có được sự hiểu biết và hợp tác từ truyền thông đại chúng để quản lý thuế. Giáo dục Thuế: Là một phần của các hoạt động quan hệ công chúng, có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nhận thức về thuế. Một số bước thực hiện như sau: Phát hành sách giáo khoa bổ sung cho các mục đích giáo dục về thuế; các 9 lớp tiến hành về thuế; tài trợ các trường Trung học cuộc thi tiểu luận về các chủ đề về thuế; tiến hành hội thảo về tài chính công và kinh tế. Tư vấn thuế: Ở Nhật Bản, một nguyên tắc đặt ra là mỗi cán bộ thuế là một nhân viên tư vấn thuế để hỗ trợ NNT trong các vấn đề liên quan đến thuế và khuyến khích việc tự nguyện khai thuế chính xác và nộp thuế đầy đủ.
Hướng dẫn và kiểm tra: Nhằm tăng cường sự tuân thủ tự nguyện của NNT. Kể từ khi hệ thống tự đánh giá được sử dụng rộng rãi, thanh tra, kiểm tra thuế đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tuân thủ tự nguyện. Ở Nhật Bản, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế tập trung vào những NNT đang bị nghi ngờ không báo cáo đầy đủ căn cứ tính thuế với số lượng lớn [59]. James Alm (Department of Economics, Andrew Young School of Policy Studies, Georgia State University, Atlanta, GA 30303-3083, USA) và Michael McKee (Department of Economics, University of Tennessee, Knoxville, TN, USA) (2004): Tax compliance as coordination game, Journal of Economic Behavior & Organization, Vol.
54 (pp297 - 312) Bài viết công bố kết quả nghiên cứu, điều tra về thực trạng tuân thủ thuế của NNT trên cơ sở thực hiện phân tích kiểm tra đối với những đối tượng có một độ lệch nhất định giữa số liệu trên tờ khai thuế với số liệu trung bình của tất cả NNT khác. Tác giả của nghiên cứu này sử dụng các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm để điều tra hành vi tuân thủ được chọn để kiểm tra dựa trên độ lệch của tờ khai thuế của mỗi cá nhân từ các báo cáo trung bình của tất cả các NNT khác. Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng, các cá nhân cảm thấy rất khó khăn để đảm bảo sự cân bằng với số liệu bình quân khi họ thực hiện các hành vi không tuân thủ thuế. Do đó, việc xác định đối tượng, nội dung, mục tiêu kiểm tra thuế đối với các đối tượng này sẽ giúp phát hiện, ngăn chặn hành vi không tuân thủ và nâng cao hiệu quả kiểm tra thuế.
Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương pháp, chương trình điều tra, kiểm tra thuế có điều kiện để xây dựng cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc đánh giá mức độ tuân thủ.