Chương 1: Xác lập hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai - Chương 2: Quản lý tài sản thế chấp là nhà ở hình thành trong tương lai - Chương 3: Xử lý tài sản thế chấp là nhà ở hình thành trong tương lai Để phân tích, đánh giá một cách chi tiết và có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh về thế chấp NƠHTTTL, tác giả xây dựng bố cục luận văn theo tiến trình của hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai. Trong mỗi chương, tác giả sẽ trình bày lý luận, vướng mắc phát sinh và đề xuất kiến nghị liên quan đến từng vấn đề. Cách trình bày này cũng giúp người đọc dễ theo dõi và có cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu. 8 CHƢƠNG 1: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƢƠNG LAI Trong Chương này, Luận văn sẽ làm rõ khái niệm NƠHTTTL, điều kiện thế chấp NƠHTTTL, một số đặc điểm pháp lý của thế chấp NƠHTTTL (bên thế chấp và bên nhận thế chấp, nghĩa vụ được bảo đảm, hiệu lực giữa các bên, hiệu lực đối kháng với bên thứ ba) và so sánh các dạng hợp đồng thế chấp.
Bên thế chấp và bên nhận thế chấp Điều 147 Luật nhà ở 2014 quy định: “1. Chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở được thế chấp dự án hoặc nhà ở xây dựng trong dự án tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn cho việc đầu tư dự án hoặc xây dựng nhà ở đó […]. Tổ chức, cá nhân xây dựng nhà ở hình thành trong tương lai trên thửa đất ở hợp pháp của mình; tổ chức, cá nhân mua nhà ở hình thành trong tương lai trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của chủ đầu tư được thế chấp nhà ở này tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn phục vụ cho xây dựng nhà ở hoặc để mua chính nhà ở đó.” Như vậy, bên thế chấp trong hợp đồng thế chấp NƠHTTTL bao gồm: - Chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở. - Tổ chức, cá nhân mua NƠHTTTL trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở.
- Tổ chức, cá nhân xây dựng NƠHTTTL trên thửa đất ở hợp pháp của mình. Cũng theo quy định tại điều 147, Luật nhà ở, bên nhận thế chấp ở đây bắt buộc phải là tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam. Trong khi đó đối với nhà ở sẵn có và chủ sở hữu nhà ở là cá nhân, bên nhận thế chấp có thể là “tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế đang hoạt động tại Việt Nam hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật” (khoản 2 điều 144 Luật nhà ở). Có thể thấy pháp luật hiện hành vẫn còn quy định hạn chế đối với hình thức thế chấp NƠHTTTL về mặt chủ thể nhận thế chấp.
Tài sản thế chấp 1.1 Tài sản hình thành trong tương lai Căn cứ vào thời điểm hình thành và thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp, theo điều 108, Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 (“Bộ luật dân sự”), tài sản hiện có và tài sản HTTTL được phân biệt như sau: “1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: a) Tài sản chưa hình thành; b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.” Từ định nghĩa trên có thể thấy tài sản hình thành trong tương lai là tài sản chưa tồn tại về mặt vật chất hoặc là tài sản chưa thuộc sở hữu của bên thế chấp tại thời điểm xác lập giao dịch thế chấp. Theo quy định tại khoản 3 Điều 295, Bộ luật dân sự, tài sản thế chấp có thể là tài sản HTTTL.
Hiện nay, vẫn còn một số ý kiến phản đối việc thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, phần lớn là do tính không chắc chắn của loại tài sản đặc biệt này (Trương Thanh Đức, 2017, tr. Theo quy định tại khoản 1, Điều 295 và Điều 317, Bộ luật dân sự, tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Rõ ràng là tại thời điểm xác lập hợp đồng thế chấp tài sản HTTTL, bên thế chấp vẫn chưa xác lập (được) quyền sở hữu của mình đối với tài sản này (Bùi Đức Giang 2018, tr. Về điểm này, theo quy định tại khoản 1, điều 319, Bộ luật dân sự, “hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Áp dụng vào trường hợp thế chấp tài sản 10 HTTTL, để dung hòa với yêu cầu về việc tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp có thể lập luận rằng tài sản HTTTL là một loại tài sản và bên thế chấp có thể sử dụng một số giấy tờ khác tương đương để chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình đối với tài sản như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng góp vốn, hợp đồng mua bán, quyết định giao thuê đất, biên lai nộp thuế… 1.2 Nhà ở hình thành trong tương lai Nhà ở cũng là một loại tài sản nên khi đáp ứng được các đặc điểm của tài sản HTTTL theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì đó cũng là NƠHTTTL; do đó có thể chỉ ra những yếu tố của NƠHTTTL như sau: (i) Yếu tố vật chất: Đó có thể là nhà ở chưa hình thành hoặc đã hình thành. Nhà ở hình thành tức là đã tồn tại như một thực thể mà mọi người đều có thể nhận dạng, gọi tên và khai thác theo đúng tính năng, công dụng của nó. (ii) Yếu tố pháp lý: Nhà ở đó chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể xác lập giao dịch; đó có thể xác lập quyền sở hữu lần đầu hoặc xác lập quyền sở hữu kế tục cho chủ thể của giao dịch. Sự xác lập quyền sở hữu lần đầu được hiểu là tài sản đang hình thành và khi hình thành thì lần đầu tiên mới xác định được chủ sở hữu của tài sản là ai, ví dụ như ngôi nhà được xây xong… Sự xác lập quyền sở hữu kế tục được hiểu là nhà ở đã hình thành và đã có chủ sở hữu, nay đang trong quá trình dịch chuyển quyền sở hữu cho chủ thể mới, ví dụ: Nhà ở đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu và đang được bán cho người khác.
Người mua đã ký kết hợp đồng mua bán, đang thực hiện các nghĩa vụ để có thể trở thành chủ sở hữu tiếp theo của nhà ở, thì có khả năng dùng nhà ở này để thực hiện việc thế chấp, việc bán lại cho người khác dưới khía cạnh là NƠHTTTL. Tuy nhiên, đối với các loại nhà ở mà luật quy định chủ thể giao dịch phải đứng tên chủ sở hữu của tài sản được bán, tặng cho, thế chấp… thì sẽ không bao gồm tài sản HTTTL. (iii) Yếu tố thời gian: Hai yếu tố trên phải được xét tại thời điểm xác lập giao dịch, nghĩa là nhà ở đã hình thành hoặc chưa hình thành và chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể của giao dịch. Thời điểm xác lập giao dịch chính là thời điểm các bên ký kết giao dịch (đối với giao dịch được giao kết dưới hình thức văn bản) hoặc 11 thỏa thuận xong nội dung cơ bản của giao dịch (đối với giao dịch được giao kết dưới hình thức lời nói), trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Trên cơ sở phân tích các yếu tố trên của NƠHTTTL, chúng ta có thể rút ra khái niệm cho loại tài sản này như sau: NƠHTTTL bao gồm nhà ở chưa hình thành, đang trong quá trình hình thành và cả nhà ở đã được hình thành tại thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp, nhưng sau thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp mới thuộc sở hữu của bên thế chấp (Vũ Thị Hồng Yến 2017, tr. Theo quy định của khoản 4 Điều 3 Luật kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13 ngày 25/11/2014 (“Luật kinh doanh bất động sản”), nhà, công trình xây dựng HTTTL là nhà, công trình xây dựng đang trong quá trình xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng. Theo quy định của khoản 19 Điều 3 Luật Nhà ở, NƠHTTTL là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng. Khoản 19, điều 3, Luật nhà ở định nghĩa NƠHTTTL là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng.
Khoản 5 điều 80 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật nhà ở (“Nghị định 99”) hướng dẫn cụ thể: “a) Nhà ở có sẵn là nhà ở đã có biên bản nghiệm thu hoàn thành việc xây dựng đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng; trường hợp nhà ở do chủ đầu tư tự thực hiện xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (nhà ở không bắt buộc phải do đơn vị có năng lực thực hiện xây dựng) thì phải đáp ứng điều kiện đã có hệ thống điện, nước phục vụ cho sinh hoạt, có hệ thống phòng cháy, chữa cháy (nếu nhà ở thuộc diện bắt buộc phải có hệ thống phòng cháy, chữa cháy); b) Nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở không đáp ứng điều kiện quy định tại Điểm a Khoản này.” 12 Khái niệm tài sản HTTTL của Bộ luật Dân sự có sự khác biệt với khái niệm nhà ở và công trình xây dựng HTTTL của Luật Nhà ở. Theo Bộ luật dân sự, ngay cả khi nhà ở, công trình xây dựng đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu tại thời điểm chủ thể xác lập giao dịch thì vẫn được coi là tài sản HTTTL. Có thể nói, Luật nhà ở đã thiết kế khái niệm nhà ở, công trình xây dựng HTTTL dưới giác độ vật chất, còn Bộ luật Dân sự thì xây dựng khái niệm trên dưới giác độ nhà ở là đối tượng của giao dịch nên cần phải được đáp ứng cả hai tiêu chí vật chất và pháp lý (chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu cho bên thế chấp tại thời điểm xác lập giao dịch thế chấp).