Tổng quan về luận án
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Long tại Trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài "Thế chấp quyền tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam" (Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự, Mã số: 9 38 01 03, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Thị Hồng Yến và TS. Nguyễn Hải An) đại diện cho một bước tiến học thuật tiên phong trong khoa học pháp lý tư Việt Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chuyển dịch mạnh mẽ sang nền kinh tế số và phát triển các mô hình tài chính hiện đại, nhu cầu tiếp cận vốn tín dụng thông qua các tài sản vô hình ngày càng trở nên cấp thiết. Về mặt thực tiễn ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD) thường áp dụng tỷ lệ cấp tín dụng an toàn chỉ từ 60% đến tối đa 70% giá trị tài sản bảo đảm nhằm dự phòng các biến động bất lợi và chi phí xử lý tài sản khi phát sinh rủi ro vi phạm nghĩa vụ. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất nằm ở khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động thế chấp quyền tài sản còn phân tán, chồng chéo và thiếu nhất quán.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được xác định rõ: Kể từ thời điểm Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 có hiệu lực thi hành, chưa có một công trình học thuật cấp tiến sĩ nào giải quyết một cách có hệ thống, toàn diện các xung đột học thuật giữa lý thuyết vật quyền bảo đảm (security property rights) và quan hệ trái quyền (personal obligations) trong việc nhận diện, xác lập và xử lý thế chấp quyền tài sản. Hệ thống quy phạm điều chỉnh biện pháp này đang nằm rải rác trong nhiều văn bản luật chuyên ngành như Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2022), Luật Doanh nghiệp năm 2020 cùng các văn bản dưới luật như Nghị định số 21/2021/NĐ-CP và Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 về đăng ký biện pháp bảo đảm (BPBĐ). Sự thiếu đồng bộ này tạo ra khoảng trống pháp lý nghiêm trọng giữa lý luận thực định và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân (TAND) các cấp.
Luận án thiết lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết tương ứng:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản chất pháp lý của quyền tài sản và thế chấp quyền tài sản trong mối tương quan giữa quyền đối vật và quyền đối nhân là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Những khoảng trống, mâu thuẫn và bất cập trong hệ thống pháp luật thực định Việt Nam hiện hành về điều kiện, hiệu lực đối kháng và phương thức xử lý quyền tài sản thế chấp là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những giải pháp lập pháp cụ thể nào cần được thiết lập nhằm bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch và khả thi cho hệ thống giao dịch bảo đảm tại Việt Nam?
- Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Quyền tài sản mang bản chất là các tài sản vô hình đem lại lợi ích vật chất, do đó việc áp dụng đồng nhất cơ chế xử lý tài sản hữu hình sang quyền tài sản sẽ làm tê liệt khả năng thu hồi nợ của bên nhận thế chấp.
- Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Sự phân mảnh trong quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm và thiếu vắng nguyên tắc phân loại quyền tài sản có thể chuyển giao dẫn đến nguy cơ vô hiệu hóa các hợp đồng thế chấp phát sinh từ hợp đồng và quyền sở hữu trí tuệ (SHTT).
Khung lý thuyết của công trình được định vị vững chắc dựa trên sự tích hợp của 04 trường phái lý thuyết nền tảng: Lý thuyết về quyền sở hữu (Property Rights Theory), Lý thuyết về vật quyền (In Rem Rights Theory), Lý thuyết về trái quyền (In Personam Obligations Theory) và Lý thuyết giữ tài sản thế chấp (Mortgage Lien Theory). Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ các nhóm quyền tài sản luật định tại Việt Nam (quyền tài sản phát sinh từ giao dịch dân sự, quyền đối với đối tượng SHTT, quyền sử dụng đất, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt), loại trừ các tài sản mới chưa được luật định như tài sản kỹ thuật số hay tiền mã hóa, từ đó xác lập những luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng cao.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tình hình nghiên cứu chứng minh sự vận động đa chiều của khoa học pháp lý trong và ngoài nước về giao dịch bảo đảm bằng tài sản vô hình. Tại Việt Nam, học giả Đỗ Văn Đại (2012) trong "Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Bản án và bình luận bản án" đã khai phá nền tảng thực định thông qua án lệ và thực tiễn xét xử, song chủ yếu dừng lại ở các tranh chấp tài sản truyền thống. Vũ Thị Hồng Yến (2013, 2017) với các công trình chuyên khảo về tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo BLDS 2015 đã đặt nền móng phân tích hạn chế của việc tiếp cận thế chấp thuần túy dưới giác độ trái quyền hoặc vật quyền. Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2012, 2015) phân tích điều kiện tài sản bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán, trong khi Nguyễn Quang Hương Trà (2019) tập trung chuyên biệt vào thế chấp bất động sản. Ở giác độ chuyên sâu về từng loại quyền, Bùi Đức Giang (2014) làm rõ tính chất của phần vốn góp làm tài sản bảo đảm, và Hồ Quang Huy (2011) cảnh báo khoảng trống xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo đảm với các chủ thể liên quan như người lao động.
Trong y giới học thuật, hai luồng quan điểm đối lập sâu sắc đã xuất hiện:
- Trường phái Trái quyền thuần túy: Nhìn nhận hợp đồng thế chấp quyền tài sản chỉ tạo ra quyền yêu cầu giữa các bên giao kết, nghĩa vụ chỉ được thực thi thông qua hành vi của bên có nghĩa vụ.
- Trường phái Vật quyền bảo đảm: Đại diện tiêu biểu là GS.TS. Nguyễn Ngọc Điện (2015), người khẳng định: "về mặt lý luận, cần áp dụng lý thuyết vật quyền bảo đảm làm nền tảng xây dựng các quy định về biện pháp bảo đảm trong Bộ luật dân sự". Quan điểm này yêu cầu trao cho bên nhận thế chấp quyền chi phối trực tiếp và quyền truy đòi đối với giá trị kinh tế của tài sản vô hình.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế, công trình định vị nghiên cứu của mình qua hai hệ thống pháp luật điển hình:
- Cộng hòa Pháp: BLDS Pháp (Code Civil) phân loại tài sản tại Điều 516 thành động sản và bất động sản, trong đó bất động sản bao gồm cả các quyền tài sản gắn liền với bất động sản (Điều 526) và động vật phục vụ canh tác (Điều 522). Đạo luật cải cách ngày 23/3/2006 của Pháp (được M. Grimaldi phân tích năm 2006) cấm việc các bên tự dàn xếp bán tài sản bảo đảm theo thỏa thuận ngầm nhằm ngăn chặn tình trạng ép giá, đồng thời thiết lập cơ chế chuyển nhượng quyền đòi nợ từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ như một biện pháp bảo đảm tối ưu.
- Hoa Kỳ: Tiếp cận tài sản theo học thuyết thực chứng pháp lý (Legal Positivism), điển hình qua nhận định của John G. Sprankling: "Tài sản như một tập hợp các quyền trong mối liên quan với vật". Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC - Điều 9) cùng các nghiên cứu của Douglas J. Whaley và Stephen M. McJohn (2010) cung cấp cơ chế "hoàn thiện biện pháp bảo đảm" (perfection of security interests) linh hoạt thông qua đăng ký Tờ khai cấp vốn (UCC Financing Statement), chiếm giữ hoặc kiểm soát tài sản. Ngoài ra, nghiên cứu của Bích Thảo Nguyễn (SMU Dedman School of Law) chỉ ra bước tiến vượt bậc của các ngân hàng Mỹ như Silicon Valley Bank hay Square 1 Bank trong việc tài trợ nợ dựa trên giá trị thương mại hóa của quyền SHTT.
Qua tổng hợp luật mẫu EBRD, Công ước Cape Town và quy tắc UNCITRAL (Lê Thị Thu Thủy và Đỗ Minh Tuấn, 2016), luận án đã định vị chính xác khoảng trống: Pháp luật Việt Nam thiếu vắng một khái niệm chuẩn xác về quyền tài sản, thiếu tiêu chí phân định quyền tài sản được phép lưu thông và chưa hoàn thiện cơ chế hiệu lực đối kháng đối với bên thứ ba cho từng loại quyền tài sản vô hình.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã tạo ra bước đột phá lý luận khi tái định nghĩa và bổ khuyết cho quy định hạn chế tại Điều 115 BLDS 2015. Tác giả chỉ ra rằng định nghĩa hiện hành chỉ nêu một tiêu chí duy nhất "là quyền trị giá được bằng tiền" kết hợp liệt kê không đầy đủ, dẫn đến việc bỏ sót nhiều quyền tài sản được ghi nhận tại các luật chuyên ngành. Luận án đề xuất định nghĩa mang tính khái quát hóa cao: "Quyền tài sản là những tài sản vô hình đem lại lợi ích vật chất cho chủ thể hưởng quyền". Định nghĩa này đặt quyền tài sản như một thực thể "vật vô hình" đối lập logic với "vật hữu hình", giải quyết triệt để sự bế tắc trong kỹ thuật lập pháp tài sản của Việt Nam.
Đồng thời, luận án làm sáng tỏ tính chất nhị nguyên của quyền tài sản thế chấp:
- Quyền tài sản mang bản chất quyền đối vật (In Rem): Cho phép chủ thể trực tiếp chi phối tài sản, bao gồm quyền sử dụng đất, quyền hưởng dụng (Điều 257 BLDS 2015), quyền bề mặt (Điều 267 BLDS 2015). Bản chất của các quyền này là sự "phân rã quyền sở hữu", nơi chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu và khai thác kinh tế nhưng vẫn bảo lưu quyền định đoạt tối hậu.
- Quyền tài sản mang bản chất quyền đối nhân (In Personam): Quyền của chủ thể chỉ được thỏa mãn thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên thứ ba, điển hình như quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán hợp đồng, quyền thụ hưởng bảo hiểm.
Luận án khẳng định tính chính danh của luận điểm do Nguyễn Văn Hoạt (2004) khởi xướng: "khi xác lập quan hệ thế chấp, các bên hướng tới và quan tâm không chỉ là bên thế chấp có quyền sử dụng đất hay không... mà là giá trị của quyền sử dụng đất (cũng như là giá trị của tài sản thế chấp nói chung)". Qua đó, bản chất của thế chấp quyền tài sản được định hình là việc chuyển giao quyền năng chi phối giá trị kinh tế của quyền tài sản để bảo đảm nghĩa vụ mà không chuyển giao sự chiếm giữ vật chất.
Khung phân tích độc đáo
Luận án thiết lập khung phân loại 03 tầng dựa trên nguồn gốc xác lập quyền tài sản:
- Nhóm quyền tài sản phát sinh từ giao dịch dân sự: Bao gồm quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, quyền phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (như Bùi Đức Giang khẳng định: "Về bản chất, thế chấp hợp đồng bảo hiểm hay cụ thể hơn thế chấp quyền nhận khoản tiền bảo hiểm là một dạng đặc biệt của thế chấp quyền đòi nợ"), quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp.
- Nhóm quyền tài sản đối với đối tượng của quyền SHTT: Chỉ bao gồm các quyền có khả năng "thương mại hóa" (quyền tài sản tác giả, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng), loại trừ quyền nhân thân không gắn với tài sản và các đối tượng cấm chuyển giao như chỉ dẫn địa lý hay tên thương mại đơn lẻ.
- Nhóm quyền tài sản phát sinh theo quy định của luật: Quyền sử dụng đất (khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai 2013), quyền hưởng dụng và quyền bề mặt. Riêng quyền đối với bất động sản liền kề (Điều 245 BLDS 2015) bị loại trừ khỏi đối tượng thế chấp do tính chất phụ thuộc vĩnh viễn vào bất động sản hưởng quyền nhằm duy trì trật tự láng giềng.
Điều kiện biên (boundary conditions) được xác lập nghiêm ngặt: Quyền tài sản thế chấp bắt buộc phải có tính thanh khoản, có thể trị giá thành tiền và thuộc nhóm có thể chuyển giao tự do trong giao dịch dân sự, loại trừ tuyệt đối các quyền tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân như quyền yêu cầu cấp dưỡng hoặc quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng theo khoản 3 Điều 377 BLDS 2015.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu đứng vững trên nền tảng thế giới quan của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp hài hòa với phương pháp luận của Chủ nghĩa thực chứng pháp lý (Legal Positivism) và Trường phái Luật học so sánh (Comparative Jurisprudence). Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level research design) cho phép đánh giá quy phạm pháp luật không chỉ ở góc độ văn bản lập pháp tĩnh mà trong sự tương tác động với các quan hệ kinh tế - tín dụng và thực tiễn xét xử.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu học thuật tuân thủ tiêu chuẩn khắt khe:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Rà soát, đối chiếu toàn bộ 115 điều luật của Chương VII (Tài sản) và Chương XVII (Biện pháp bảo đảm) BLDS 2015 cùng hệ thống hơn 10 đạo luật chuyên ngành liên quan trực tiếp.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu cơ chế hoàn thiện biện pháp bảo đảm của Luật Mẫu EBRD, UCC Hoa Kỳ và BLDS Cộng hòa Pháp với pháp luật thực định Việt Nam nhằm xác định khoảng cách lập pháp.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống và án lệ (Case-law analysis): Đánh giá trực tiếp các văn bản áp dụng pháp luật của TAND Tối cao, tiêu biểu như Án lệ số 31/2020/AL ngày 05/02/2020 về quyền thuê, mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là quyền tài sản có thể chuyển giao thừa kế.
- Kỹ thuật tam giác giác hóa (Triangulation): Kiểm chứng chéo giữa dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, dữ liệu nghiệp vụ thẩm định tín dụng của các ngân hàng thương mại và số liệu tranh chấp hợp đồng thế chấp thực tế.
Data và phân tích
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm hệ thống các quy định từ BLDS năm 2005 (Điều 163, 322, 379), BLDS năm 2015 (Điều 105, 115, 158, 159, 245, 257, 267, 377), Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN, Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT, Thông tư số 08/2018/TT-BTP (khoản 7 Điều 6 về đăng ký quyền tài sản từ dự án nhà ở, công trình xây dựng), và Nghị định số 99/2022/NĐ-CP.
Luận án tiến hành mổ xẻ cấu trúc hợp đồng cấp tín dụng phức hợp tại các ngân hàng thương mại, chỉ ra rằng một giao dịch thế chấp quyền tài sản an toàn đòi hỏi sự xác lập đồng thời của 04 tài liệu pháp lý bắt buộc:
- Hợp đồng tín dụng (xác định hạn mức, lãi suất và tỷ lệ ứng vốn LTV 60% - 70%);
- Hợp đồng thế chấp quyền tài sản (đóng vai trò hợp đồng phụ phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính);
- Đơn đăng ký biện pháp bảo đảm (thiết lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba);
- Nghị quyết chấp thuận vay vốn của cơ quan có thẩm quyền của pháp nhân vay vốn.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Xung đột lập pháp về khái niệm và phân loại quyền tài sản: Việc BLDS 2015 bãi bỏ tiêu chí "có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự" tại Điều 115 đã tạo ra lỗ hổng lớn, khiến các bên chủ thể lúng túng khi xác định các quyền tài sản nào được phép đưa vào giao dịch bảo đảm, dẫn đến nguy cơ hợp đồng bị tuyên vô hiệu do đối tượng không thể chuyển nhượng.
- Sự phân tán và bất cập của hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm: Cơ chế đăng ký thế chấp quyền tài sản hiện nay bị chia cắt cơ học giữa hai cơ quan quản lý: Quyền tài sản mang bản chất bất động sản phải đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai, trong khi quyền tài sản mang bản chất động sản (quyền đòi nợ, quyền SHTT, phần vốn góp) lại đăng ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (Bộ Tư pháp). Điều này tạo ra rủi ro tẩu tán tài sản và chồng lấn quyền ưu tiên thanh toán.
- Điểm nghẽn xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản hình thành từ hợp đồng: Thực tiễn xử lý quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai hoặc quyền đòi nợ hoàn toàn phụ thuộc vào sự hợp tác của bên thứ ba (chủ đầu tư dự án hoặc bên có nghĩa vụ trả nợ). Khi bên thứ ba không hợp tác, việc bán đấu giá hoặc thu giữ quyền tài sản gần như bất khả thi nếu không có phán quyết thi hành của Tòa án.
- Rủi ro pháp lý trong thế chấp phần vốn góp và tài sản hộ gia đình: Tồn tại mâu thuẫn giữa quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập trong 03 năm đầu theo Luật Doanh nghiệp 2020 với quyền xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng; đồng thời, việc xác định thành viên hộ gia đình tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tiếp tục là nguồn cơn của hàng loạt bản án tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Bổ sung và hoàn thiện học thuyết vật quyền bảo đảm trong hệ thống luật tư Việt Nam, tạo nền tảng phân định ranh giới giữa quyền đối vật và quyền đối nhân đối với tài sản vô hình.
- Về thực tiễn quản trị ngân hàng: Khuyến nghị các TCTD chuẩn hóa quy trình thẩm định giá quyền tài sản, thiết lập các điều khoản phong tỏa tài khoản thanh toán, ủy quyền xử lý nợ không hủy ngang và hoàn thiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm ngay trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm giao kết.
- Về lập pháp và chính sách: Đề xuất sửa đổi Điều 105 và Điều 115 BLDS 2015 theo hướng ghi nhận tài sản vô hình; sửa đổi Luật Đất đai và Luật Nhà ở nhằm thống nhất đầu mối cơ sở dữ liệu đăng ký quyền tài sản quốc gia trực tuyến liên thông.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận 03 giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu tập trung vào các quyền tài sản đã được định hình trong luật thực định Việt Nam, không đi sâu vào các dạng tài sản số mới nổi (digital assets, tiền mã hóa, tài sản ảo trong metaverse).
- Dữ liệu thực tiễn tập trung chủ yếu vào hoạt động cấp tín dụng ngân hàng thương mại, chưa mở rộng sang các kênh tài trợ vốn vi mô hoặc các quỹ đầu tư mạo hiểm mượn nợ (venture debt).
- Thiếu vắng các phân tích định lượng kinh tế lượng (econometric modeling) về tác động của rủi ro pháp lý quyền tài sản đến biên độ lãi suất cho vay.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) mở ra 04 hướng đi:
- Xây dựng khung pháp lý thế chấp tài sản số và dữ liệu cá nhân (data ownership as collateral);
- Cơ chế chứng khoán hóa các khoản nợ được bảo đảm bằng quyền tài sản (Securitization of receivables);
- Ứng dụng công nghệ sổ cái phân tán (Blockchain/Smart Contracts) trong tự động hóa đăng ký và xử lý tài sản thế chấp vô hình;
- Hoàn thiện quy tắc ưu tiên thanh toán liên biên giới theo chuẩn mực UNCITRAL.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo ra tác động sâu rộng trên cả 04 phương diện:
- Học thuật: Đóng vai trò tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Luật Dân sự, mở đường cho các nghiên cứu tiếp nối về tài chính tài sản bảo đảm (asset-based financing).
- Ngành Ngân hàng - Tài chính: Giúp các định chế tài chính giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn trong danh mục tài sản bảo đảm vô hình, thúc đẩy mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo sở hữu nhiều tài sản trí tuệ nhưng thiếu bất động sản hữu hình.
- Cải cách Tư pháp: Cung cấp luận cứ khoa học để Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành các Án lệ mới hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền tài sản bị tuyên vô hiệu.
- Hội nhập Quốc tế: Đưa hệ thống giao dịch bảo đảm của Việt Nam tiệm cận với các chuẩn mực pháp lý quốc tế như Luật Mẫu EBRD và UCC Hoa Kỳ, nâng cao chỉ số tiếp cận tín dụng trong đánh giá môi trường kinh doanh quốc gia.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên Luật: Tiếp cận hệ thống lý luận vững chắc về phân loại tài sản vô hình và khung phân tích so sánh luật học.
- Khối Pháp chế Ngân hàng và TCTD: Nhận diện chính xác 04 lớp rủi ro khi nhận thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền SHTT và quyền sử dụng đất để thiết kế hợp đồng mẫu chuẩn xác.
- Thẩm phán và Chấp hành viên: Nắm vững bản chất của quyền đối vật và quyền đối nhân để giải quyết thấu đáo các tranh chấp xử lý tài sản bảo đảm và thi hành án dân sự.
- Cơ quan Lập pháp (Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT): Cơ sở lý luận trực tiếp để soạn thảo, sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc tái cấu trúc khái niệm quyền tài sản dựa trên việc tích hợp Học thuyết Vật quyền và Thuyết Thực chứng pháp lý, mở rộng trực tiếp Điều 115 BLDS 2015. Luận án định danh quyền tài sản là "vật vô hình đem lại lợi ích vật chất", phân định rõ hai nhánh quyền đối vật (mang tính chi phối trực tiếp giá trị) và quyền đối nhân (phụ thuộc vào hành vi của bên có nghĩa vụ), khắc phục triệt để tình trạng đồng nhất cơ chế xử lý giữa tài sản hữu hình và quyền vô hình.
2. Điểm đổi mới về phương pháp luận so với các công trình trước đây?
Trả lời: So với công trình của Đỗ Văn Đại (2012) vốn thuần túy bình luận bản án và Vũ Thị Hồng Yến (2013) nghiên cứu tài sản thế chấp chung, luận án của Nguyễn Hoàng Long đã kết hợp phương pháp so sánh luật học đa hệ thống (Civil Law Pháp, Common Law Hoa Kỳ, các khung quốc tế EBRD/UNCITRAL) với phương pháp phân tích cấu trúc kinh tế - pháp lý của chuỗi giao dịch tín dụng 04 tầng tại ngân hàng thương mại.
3. Phát hiện gây bất ngờ nhất có sự hỗ trợ của dữ liệu thực tiễn là gì?
Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là thực trạng "vô hiệu hóa công năng bảo đảm" của các quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở: Mặc dù hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm hợp lệ theo Thông tư 08/2018/TT-BTP, nhưng trên thực tế bên nhận thế chấp không thể tự mình phát mại tài sản nếu chủ đầu tư từ chối xác nhận chuyển giao nghĩa vụ hoặc chậm cấp giấy chứng nhận, buộc 100% các ngân hàng phải chuyển sang khởi kiện kéo dài tại Tòa án.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) không?
Trả lời: Luận án cung cấp bộ quy trình 04 bước thẩm định - giao kết - đăng ký - xử lý thế chấp quyền tài sản chuẩn hóa, bao gồm bảng tiêu chí sàng lọc quyền tài sản có thể chuyển giao, công thức kiểm soát tỷ lệ cấp tín dụng an toàn (LTV 60% - 70%) và quy trình đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến liên thông có thể áp dụng ngay cho các định chế tài chính.
5. Định hướng nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?
Trả lời: Tác giả phác thảo lộ trình 10 năm tập trung vào: (i) Thể chế hóa quyền tài sản đối với tài sản số và dữ liệu lớn; (ii) Tích hợp công nghệ chuỗi khối vào hệ thống đăng ký tài sản bảo đảm quốc gia; (iii) Xây dựng Luật Giao dịch bảo đảm độc lập thay thế cho các quy định phân tán hiện nay.
Kết luận
Công trình nghiên cứu tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hoàng Long đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 05 đóng góp nền tảng mang tính bước ngoặt:
- Xây dựng hoàn chỉnh khái niệm và hệ thống đặc điểm pháp lý của quyền tài sản dưới tư cách là tài sản vô hình đem lại lợi ích vật chất.
- Xác lập tiêu chí phân loại khoa học giữa quyền tài sản có tính chất đối vật và đối nhân, làm cơ sở định hình phương thức xử lý tài sản bảo đảm chuyên biệt.
- Chỉ rõ các xung đột, lỗ hổng pháp lý giữa BLDS năm 2015 với Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Doanh nghiệp và Luật SHTT trong việc xác lập, đăng ký giao dịch bảo đảm.
- Tổng kết toàn diện thực tiễn xét xử và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam khi xử lý các quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và phần vốn góp.
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, từ việc sửa đổi BLDS, thống nhất cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm quốc gia đến việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ bên nhận thế chấp ngay tình.
Luận án khẳng định bước chuyển dịch mô hình (paradigm shift) từ tư duy bảo đảm dựa trên vật thể hữu hình truyền thống sang tư duy tài trợ dựa trên giá trị kinh tế của các quyền tài sản vô hình, mở ra các hướng nghiên cứu hiện đại về tài chính số và góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.