Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Thế chấp quyền tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Long tại Trường Đại học Luật Hà Nội (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Thị Hồng Yến và TS. Nguyễn Hải An, bảo vệ năm 2023. Luận án thuộc chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự, mã số 9 38 01 03.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, luận án chỉ ra rằng thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm quan trọng hỗ trợ tiếp cận vốn và hạn chế rủi ro cho bên cho vay. Trong thực tiễn, số lượng và giá trị các giao dịch thế chấp quyền tài sản gia tăng kéo theo nhiều tranh chấp phức tạp. Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp quyền tài sản vẫn tồn tại nhiều điểm chưa thống nhất (nhận diện quyền tài sản, phạm vi tài sản thế chấp, hiệu lực của biện pháp, phương thức xử lý). Mặt khác, hệ thống quy định hiện hành nằm rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) sửa đổi năm 2009, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN, Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT... Sự thiếu đồng bộ và thiếu thống nhất giữa các văn bản gây ra nhiều vướng mắc trong áp dụng. Kể từ khi BLDS năm 2015 có hiệu lực thi hành, chưa có công trình nào dưới hình thức luận án nghiên cứu tổng quát, toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền tài sản.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp quyền tài sản, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện. Để đạt được mục đích này, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ bản chất của thế chấp quyền tài sản, xây dựng khái niệm và chỉ ra các đặc điểm pháp lý của thế chấp quyền tài sản; xây dựng khái niệm quyền tài sản, hệ thống hóa các căn cứ phân loại và chỉ ra ý nghĩa của việc phân loại quyền tài sản.
- Làm rõ các vấn đề quan trọng liên quan đến thế chấp quyền tài sản như chủ thể, đối tượng, các trường hợp xử lý quyền tài sản thế chấp và thực tiễn áp dụng; đồng thời nghiên cứu so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt.
- Chỉ ra các ưu điểm, hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản.
Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của luận án được triển khai trên ba khía cạnh:
- Khía cạnh lý luận: Câu hỏi nghiên cứu xoay quanh khái niệm quyền tài sản, các loại quyền tài sản, phạm vi, đặc điểm pháp lý của quyền tài sản thế chấp, khái niệm và đặc điểm pháp lý của thế chấp quyền tài sản. Giả thuyết nghiên cứu cho rằng lý luận về quyền tài sản và thế chấp quyền tài sản chưa được nghiên cứu hệ thống, cần được làm sáng tỏ để tạo cách hiểu thống nhất.
- Khía cạnh pháp luật thực định: Câu hỏi nghiên cứu tập trung vào thực trạng quy định pháp luật hiện hành về chủ thể, đối tượng, thời điểm có hiệu lực, đăng ký và xử lý quyền tài sản thế chấp, cùng các hạn chế, bất cập liên quan. Giả thuyết nghiên cứu xác định quy định hiện hành còn tản mạn, thiếu đồng bộ và một số nội dung chưa phù hợp với thực tiễn.
- Khía cạnh kiến nghị hoàn thiện: Câu hỏi nghiên cứu hướng đến định hướng và các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm khắc phục bất cập. Giả thuyết nghiên cứu cho rằng các đề xuất trước đây còn mang tính đơn lẻ theo từng loại quyền cụ thể, cần được bổ sung hoàn thiện đồng bộ để đảm bảo tính khả thi và thống nhất.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp quyền tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Phạm vi nghiên cứu được xác định theo bốn nội dung:
- Tập trung vào các quyền tài sản đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận; các loại tài sản mới phát sinh chưa chịu sự điều chỉnh của pháp luật như tài sản kỹ thuật số, tiền mã hóa không thuộc phạm vi nghiên cứu.
- Phân tích các quy định của BLDS năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản liên quan, có so sánh đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp quyền tài sản trên thực tế tại Việt Nam.
- Đưa ra các đánh giá và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật thực định.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài:
Các công trình nghiên cứu trong nước:
- Sách chuyên khảo, tham khảo: "Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Bản án và bình luận bản án" (Tập 1 & 2, 2012) của tác giả Đỗ Văn Đại; "Hoàn thiện chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Dân sự" (2015) của tập thể tác giả Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang; "Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Bộ luật dân sự 2015" (2017) của tác giả Vũ Thị Hồng Yến; "Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay" (2012) của Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang.
- Đề tài khoa học: "Đăng ký bất động sản – Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (2011) do Nguyễn Minh Tuấn làm chủ nhiệm; "Bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng bằng thế chấp bất động sản theo quy định của pháp luật hiện hành" (2017) do TS. Vũ Thị Hồng Yến làm chủ nhiệm.
- Luận văn, luận án: "Một số vấn đề về thế chấp tài sản tại ngân hàng thương mại" (Luận văn Thạc sĩ, 2010) của Vũ Thị Thu Hằng; "Bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng bằng thế chấp tài sản" (Luận án Tiến sĩ, 2004) của Nguyễn Văn Hoạt; "Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành" (Luận án Tiến sĩ, 2013) của Vũ Thị Hồng Yến; "Thế chấp bất động sản theo quy định pháp luật Việt Nam" (Luận án Tiến sĩ, 2019) của Nguyễn Quang Hương Trà.
- Bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành: Các bài viết của Bùi Đức Giang (2014) về nhận tài sản bảo đảm là phần vốn góp; Lê Thị Thu Thủy và Đỗ Minh Tuấn (2016) về giao dịch bảo đảm dưới khía cạnh luật so sánh; Nguyễn Ngọc Điện (2015, 2017) về quản lý, xử lý tài sản thế chấp và thanh lý tài sản thế chấp trong luật Dân sự Pháp; Nguyễn Đức Giang (2012) về triết lý thế chấp quyền tài sản; Hồ Quang Huy (2011) về vật quyền bảo đảm.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài:
- Sách chuyên khảo: M. Grimaldi (2006) về biện pháp bảo đảm trên hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trong luật Pháp; Smith và John B.D (1987) trong cuốn "Real estate perspective" phân tích các nguyên lý thế chấp bất động sản; Douglas J. Whaley và Stephen M. McJohn (2010) trong cuốn "Problems and Materials on secured transactions" về các phương thức hoàn thiện quyền của bên nhận bảo đảm theo luật Hoa Kỳ.
- Luận án: Bui Duc Giang với luận án "Sûretés conventionnelles sur créances en droit français, anglais et vietnamien"; Bich Thao Nguyen với luận án tiến sĩ khoa học pháp lý tại SMU Dedman School of Law về khuôn khổ pháp lý cho việc tài trợ có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ.
- Các chuẩn mực và công ước quốc tế: Luật mẫu của EBRD (Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Châu Âu), Công ước Cape Town, các quy định của UNCITRAL (Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế), và Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC).
Đánh giá kết quả nghiên cứu trước đó và khoảng trống luận án giải quyết:
Các công trình trước đây đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh về vật quyền bảo đảm, điều kiện tài sản bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản thế chấp. Tuy nhiên, phần lớn các công trình tập trung vào tài sản hữu hình, bất động sản hoặc nghiên cứu riêng lẻ từng loại quyền tài sản cụ thể (quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, phần vốn góp). Kể từ khi BLDS năm 2015 ra đời, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về thế chấp quyền tài sản dưới góc độ lý luận, quy định thực định và thực tiễn áp dụng để đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ. Luận án kế thừa các lý thuyết nền tảng (trái quyền, vật quyền, quyền sở hữu, giữ tài sản thế chấp) và tiếp tục giải quyết khoảng trống về xây dựng khái niệm, phân loại, xác định điều kiện, hình thức, đăng ký và phương thức xử lý quyền tài sản thế chấp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các hệ thống lý thuyết, trường phái pháp lý và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành cụ thể:
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
- Lý thuyết về quyền sở hữu: Tiếp cận quyền sở hữu với tư cách là quyền năng trọn vẹn nhất của chủ thể trên tài sản (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), làm cơ sở phân biệt giữa việc sở hữu tài sản và thực hiện các quyền khác đối với tài sản.
- Lý thuyết về vật quyền và trái quyền: Luận án phân tích sự đan xen giữa yếu tố vật quyền (quyền trực tiếp chi phối tài sản, quyền truy đòi, quyền ưu tiên thanh toán, hiệu lực đối kháng bên thứ ba) và yếu tố trái quyền (quan hệ nghĩa vụ tương đối, quyền yêu cầu hành vi từ người có nghĩa vụ) trong biện pháp thế chấp.
- Lý thuyết về giữ tài sản thế chấp: Nghiên cứu các phương thức nắm giữ, kiểm soát tài sản vô hình nhằm bảo đảm giá trị thu hồi nợ.
- Trường phái Luật tự nhiên (Natural Law) và Trường phái Thực chứng pháp lý (Legal Positivism): So sánh cách tiếp cận khái niệm tài sản của Cộng hòa Pháp (phân chia động sản, bất động sản hữu hình và vô hình dựa trên luật tự nhiên) và Hoa Kỳ (tiếp cận tài sản như một tập hợp các quyền: quyền loại trừ, quyền chuyển nhượng, quyền chiếm hữu và sử dụng).
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm định hướng tiếp cận sự phát triển của các quy phạm pháp luật trong mối liên hệ với thực tiễn kinh tế - xã hội.
- Phương pháp phân tích và bình luận: Sử dụng để giải mã các khái niệm lý luận, cấu trúc quy phạm và các quy định của BLDS năm 2015 cùng các luật chuyên ngành về thế chấp quyền tài sản.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ, Luật mẫu EBRD, UNCITRAL, UCC nhằm rút ra những điểm tương đồng, dị biệt và kinh nghiệm lập pháp.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng quy định, các bất cập từ thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật để xây dựng luận cứ cho các kiến nghị hoàn thiện.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:
- Văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ: BLDS năm 2005, BLDS năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật SHTT sửa đổi năm 2009, Luật Doanh nghiệp năm 2020; các văn bản dưới luật như Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Thông tư 08/2018/TT-BTP, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN, Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT.
- Án lệ số 31/2020/AL ngày 05/02/2020 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao và các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp tín dụng, thế chấp của Tòa án nhân dân các cấp.
- Tài liệu lập pháp quốc tế (BLDS Pháp, UCC Hoa Kỳ, Luật mẫu EBRD) và các sách chuyên khảo, bài báo khoa học đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thế chấp quyền tài sản
Chương 1 tập trung nhận diện quyền tài sản, phân loại, phân tích các đặc điểm pháp lý của quyền tài sản thế chấp và bản chất của biện pháp thế chấp quyền tài sản.
Tác giả phân tích khái niệm tài sản trong luật học so sánh: Pháp luật Pháp (Điều 516, 522, 526 BLDS Pháp) phân chia tài sản thành động sản và bất động sản, trong đó bất động sản bao gồm cả quyền tài sản gắn với bất động sản. Pháp luật Hoa Kỳ nhìn nhận tài sản là một tập hợp các quyền (quyền loại trừ, quyền chuyển nhượng, quyền chiếm hữu và sử dụng). Tại Việt Nam, BLDS năm 2005 (Điều 163, Điều 322) định nghĩa quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền SHTT. Đến BLDS năm 2015 (Điều 105, Điều 115), quyền tài sản được định nghĩa là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng SHTT, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Tác giả chỉ ra rằng việc liệt kê như BLDS năm 2015 gây thiếu sót và chưa nêu bật đặc tính nhận diện. Tác giả đưa ra định nghĩa: "Quyền tài sản là những tài sản vô hình đem lại lợi ích vật chất cho chủ thể hưởng quyền".
Luận án phân loại quyền tài sản theo bốn tiêu chí cơ bản:
| Tiêu chí phân loại |
Các nhóm quyền tài sản |
Đặc điểm pháp lý và ý nghĩa áp dụng |
| Theo cách thức thực hiện quyền |
- Quyền tài sản có tính chất đối vật - Quyền tài sản có tính chất đối nhân |
- Quyền đối vật (quyền sở hữu, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt...): Cho phép bên nhận thế chấp thu giữ tài sản hữu hình làm cơ sở quyền khi xử lý. - Quyền đối nhân (quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán...): Thỏa mãn quyền lợi thông qua hành vi của bên có nghĩa vụ; cần xác lập nghĩa vụ thông báo cho bên thứ ba. |
| Theo khả năng chuyển giao |
- Quyền tài sản có thể chuyển giao - Quyền tài sản không thể chuyển giao |
- Quyền có thể chuyển giao: Là đối tượng hợp pháp của thế chấp (để bán xử lý nợ). - Quyền không thể chuyển giao: Quyền gắn liền với nhân thân (yêu cầu cấp dưỡng, bồi thường tính mạng/sức khỏe theo Khoản 3 Điều 377 BLDS năm 2015) hoặc bị luật cấm chuyển dịch. |
| Theo căn cứ xác lập quyền |
- Phát sinh từ giao dịch dân sự - Phát sinh từ hoạt động sáng tạo (SHTT) - Phát sinh trên cơ sở luật định |
- Quyền từ GDDS: Quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán, quyền thụ hưởng bảo hiểm, phần vốn góp... - Quyền từ SHTT: Quyền tác giả, quyền liên quan, sở hữu công nghiệp, giống cây trồng (phải có khả năng thương mại hóa). - Quyền luật định: Quyền sử dụng đất, quyền bề mặt, quyền hưởng dụng. |
| Theo đối tượng tác động |
- Mang bản chất bất động sản - Mang bản chất động sản |
- Quyền mang bản chất BĐS: Tác động trên BĐS hữu hình (quyền sử dụng đất, quyền bề mặt, quyền hưởng dụng BĐS); bắt buộc công chứng, chứng thực và đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai. - Quyền mang bản chất ĐS: Tác động ngoài BĐS hữu hình; đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm. |
Về đặc điểm pháp lý của quyền tài sản thế chấp, chương này phân tích 4 đặc tính:
- Luôn tồn tại dưới dạng vô hình: Phân chia thành quyền tài sản tuyệt đối (hiệu lực với mọi chủ thể như quyền SHTT) và quyền tài sản tương đối (chỉ ràng buộc bên có nghĩa vụ như quyền đòi nợ, quyền phát sinh từ hợp đồng theo Án lệ số 31/2020/AL). Do tính vô hình, việc xác lập thế chấp bắt buộc phải căn cứ vào các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, tránh nhầm lẫn giữa giấy tờ chứng nhận và bản thân tài sản.
- Không gắn liền với yếu tố nhân thân: Không bị luật cấm chuyển dịch quyền sở hữu để đảm bảo tính thanh khoản khi xử lý thu hồi nợ.
- Phải có thể trị giá được thành tiền: Đảm bảo xác định được giá trị kinh tế để định mức cấp tín dụng (các TCTD thường cho vay tối đa 60% - 70% giá trị tài sản bảo đảm).
- Con người có thể quản lý, kiểm soát được: Cho phép bên nhận thế chấp thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro pháp lý và giá trị trong thời gian bảo đảm.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền tài sản
Chương 2 phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định về các yếu tố cấu thành của quan hệ thế chấp quyền tài sản:
- Chủ thể của thế chấp quyền tài sản: Quy định về điều kiện của bên thế chấp (phải là chủ sở hữu hợp pháp của quyền tài sản hoặc người có quyền định đoạt hợp pháp) và bên nhận thế chấp (các TCTD, tổ chức, cá nhân).
- Đối tượng của thế chấp quyền tài sản: Phân tích cụ thể ba nhóm đối tượng theo luật định:
- Nhóm quyền tài sản phát sinh từ GDDS (quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, quyền thụ hưởng bảo hiểm, phần vốn góp trong doanh nghiệp theo Thông tư 08/2018/TT-BTP).
- Nhóm quyền tài sản đối với đối tượng của quyền SHTT có khả năng thương mại hóa (quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, bí mật kinh doanh, tên thương mại gắn với cơ sở kinh doanh, giống cây trồng).
- Nhóm quyền tài sản phát sinh theo quy định của luật: Quyền sử dụng đất (Khoản 1 Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013); Quyền hưởng dụng (Điều 257 BLDS năm 2015) và Quyền bề mặt (Điều 267 BLDS năm 2015). Luận án xác định quyền đối với bất động sản liền kề (Điều 245 BLDS năm 2015) không thể trở thành đối tượng thế chấp do gắn liền với việc khai thác bất động sản và không thể chuyển giao độc lập.
- Hình thức và thời điểm có hiệu lực: Phân tích yêu cầu lập văn bản, công chứng/chứng thực đối với quyền tài sản mang bản chất bất động sản và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp so với thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba.
- Đăng ký thế chấp quyền tài sản: Quy định về thủ tục, thẩm quyền đăng ký tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (Bộ Tư pháp) đối với động sản/quyền tài sản và Văn phòng đăng ký đất đai đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo Nghị định số 99/2022/NĐ-CP.
- Xử lý quyền tài sản thế chấp: Các căn cứ xử lý (đến hạn không thực hiện nghĩa vụ, vi phạm nghĩa vụ), phương thức xử lý (bán đấu giá, bên nhận thế chấp tự bán, nhận chính quyền tài sản để thay thế thực hiện nghĩa vụ) và các đặc thù khi xử lý tài sản vô hình so với tài sản hữu hình.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền tài sản
Chương 3 đi sâu vào thực tiễn áp dụng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện:
- Thực tiễn thực hiện pháp luật:
- Thực tiễn xác định quyền tài sản là đối tượng thế chấp: Vướng mắc khi nhận thế chấp số dư tiền gửi trong tài khoản khách hàng; quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai; cổ phiếu, trái phiếu.
- Thực tiễn xác lập thế chấp quyền tài sản: Các vướng mắc trong việc thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ của người thứ ba; xác định chủ thể khi thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình; xác lập thế chấp quyền hình thành từ hợp đồng và quyền SHTT.
- Thực tiễn xử lý tài sản thế chấp: Khó khăn khi xử lý quyền sử dụng đất, quyền tài sản hình thành từ hợp đồng khi bên thế chấp hoặc bên thứ ba không hợp tác; giải quyết hậu quả pháp lý khi hợp đồng thế chấp quyền tài sản bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
- Các yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật: Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa BLDS năm 2015 với các luật chuyên ngành; cân bằng quyền lợi giữa bên thế chấp, bên nhận thế chấp và người thứ ba ngay tình; nâng cao tính minh bạch và đơn giản hóa thủ tục đăng ký.
- Hệ thống kiến nghị cụ thể:
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 (về nhận diện quyền tài sản, quy tắc phân loại, xác định rõ các quyền tài sản được phép giao dịch, cơ chế xử lý quyền tài sản mang tính chất đối vật và đối nhân).
- Kiến nghị hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS năm 2015 (Nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đăng ký biện pháp bảo đảm, quy trình xử lý tài sản bảo đảm vô hình).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định sáu đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Xây dựng khái niệm quyền tài sản dưới góc độ khoa học pháp lý ("Quyền tài sản là những tài sản vô hình đem lại lợi ích vật chất cho chủ thể hưởng quyền"), đưa ra các tiêu chí phân loại quyền tài sản (đối vật/đối nhân, có thể chuyển giao/không thể chuyển giao, căn cứ xác lập, bản chất động sản/bất động sản) và chỉ rõ ý nghĩa pháp lý của từng tiêu chí phân loại.
- Thông qua nghiên cứu các học thuyết pháp lý, luận án xây dựng khái niệm thế chấp quyền tài sản và chỉ rõ các đặc điểm pháp lý đặc thù của biện pháp này.
- Phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định về đối tượng của biện pháp thế chấp quyền tài sản; xác định các điều kiện chung của quyền tài sản thế chấp và điều kiện riêng của từng loại quyền tài sản (quyền phát sinh từ GDDS, quyền SHTT, quyền do luật định).
- Chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về các trường hợp, đặc thù, căn cứ và phương thức xử lý quyền tài sản thế chấp.
- Phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam trong các hoạt động: xác định quyền tài sản là đối tượng thế chấp, xác lập thế chấp quyền tài sản và xử lý quyền tài sản thế chấp.
- Đề xuất hệ thống các yêu cầu và kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của BLDS năm 2015, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến thế chấp quyền tài sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt giới hạn, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các quyền tài sản đã được pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận. Những dạng tài sản mới phát sinh từ sự phát triển của công nghệ và kinh tế số nhưng chưa chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam (như tài sản kỹ thuật số, tiền mã hóa, tài sản ảo) không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ giới hạn này là tiếp tục theo dõi thực tiễn, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để xây dựng khung pháp lý điều chỉnh biện pháp bảo đảm đối với các loại tài sản kỹ thuật số và tài sản mã hóa khi các đối tượng này được pháp luật Việt Nam chính thức ghi nhận.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và hoạt động cụ thể:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật: Tham khảo các luận cứ khoa học và kiến nghị sửa đổi quy định về quyền tài sản trong BLDS, Luật Đất đai, các nghị định về biện pháp bảo đảm và đăng ký biện pháp bảo đảm.
- Cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Thi hành án): Tham khảo việc phân loại quyền đối vật/đối nhân, quyền tuyệt đối/tương đối để áp dụng giải quyết các tranh chấp hợp đồng thế chấp và xử lý hậu quả hợp đồng thế chấp vô hiệu.
- Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và doanh nghiệp: Tham khảo cơ chế quản trị rủi ro khi nhận thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền SHTT, quyền tài sản hình thành trong tương lai; quy trình xác minh giấy tờ chứng minh quyền sở hữu và tỷ lệ cấp vốn an toàn.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về chế định tài sản, biện pháp bảo đảm trong luật dân sự và tố tụng dân sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa khái niệm quyền tài sản như thế nào?
Luận án định nghĩa: "Quyền tài sản là những tài sản vô hình đem lại lợi ích vật chất cho chủ thể hưởng quyền". Định nghĩa này tiếp cận tài sản dưới góc độ phân chia thành vật hữu hình và vật vô hình, trong đó quyền tài sản đóng vai trò là các tài sản vô hình đem lại giá trị kinh tế.
2. Quyền tài sản thế chấp phải đáp ứng những đặc điểm pháp lý cơ bản nào?
Theo luận án, quyền tài sản thế chấp phải đáp ứng 4 đặc điểm: (i) Luôn tồn tại dưới dạng vô hình; (ii) Không phải là quyền tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân và không bị luật cấm chuyển dịch; (iii) Phải có thể trị giá được thành tiền; (iv) Con người có thể quản lý, kiểm soát được.
3. Vì sao quyền đối với bất động sản liền kề không thể là đối tượng của biện pháp thế chấp?
Quyền đối với bất động sản liền kề (quyền địa dịch) được luật ghi nhận nhằm đảm bảo sự ổn định của quan hệ láng giềng, gắn liền trực tiếp với việc khai thác bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền. Quyền này không thể tách rời để chuyển giao độc lập thông qua các giao dịch dân sự, do đó không đáp ứng điều kiện để trở thành đối tượng của biện pháp thế chấp.
4. Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ cần thỏa mãn điều kiện gì để được thế chấp?
Đối tượng của quyền SHTT phải có khả năng thương mại hóa (tạo ra lợi nhuận từ việc khai thác quyền sở hữu, quyền sử dụng) và đáp ứng 3 điều kiện: (i) Được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam; (ii) Còn hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam; (iii) Không có tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng.
5. Luận án chỉ ra các vướng mắc chính nào trong đăng ký và xử lý quyền tài sản thế chấp?
Về đăng ký, tồn tại sự phân tán giữa hệ thống cơ quan đăng ký động sản (Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm) và bất động sản (Văn phòng đăng ký đất đai), gây khó khăn khi xác định thẩm quyền đối với một số quyền tài sản phức hợp. Về xử lý, pháp luật thiếu quy định ràng buộc trách nhiệm của bên thứ ba trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với quyền đối nhân, và gặp trở ngại lớn khi bên thế chấp không hợp tác thu giữ tài sản vô hình.
Kết luận
Luận án "Thế chấp quyền tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam" của nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Long là công trình nghiên cứu hệ thống về chế định thế chấp quyền tài sản sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quyền tài sản, bản chất vật quyền và trái quyền của biện pháp thế chấp, đồng thời phân tích toàn diện thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống kiến nghị trong luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật dân sự, đất đai và hỗ trợ hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng.