CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TUYÊN BỐ PHÁ SẢN TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của thi hành quyết định tuyên bố phá sản tại Việt Nam 1. Khái niệm thi hành quyết định tuyên bố phá sản Về bản chất, thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án; quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc của Trọng tài thương mại.
Hoạt động này do cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thừa phát lại thực hiện theo quy định pháp luật thi hành án. Như vậy, để thi hành một quyết định tuyên bố phá sản, điều kiện tiên quyết là phải có một quyết định tuyên bố phá sản. Quyết định này do Tòa án ban hành và là bước kết thúc thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã. Tùy tình huống Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục thông thường hay rút gọn, mà quyết định tuyên bố phá sản sẽ được ban hành ngay hoặc sau khi có Hội nghị chủ nợ, kéo theo đó là việc thi hành án.
Mục đích chủ yếu của việc tuyên bố phá sản là xử lý phần tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã, tiến tới phân chia số tiền thu được theo trình tự do luật định và chấm dứt hoạt động kinh doanh theo thủ tục hành chính. Đây chính là tiền đề pháp lý cho hoạt động thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Hiện nay, trình tự thi hành quyết định tuyên bố phá sản được quy định cụ thể tại Luật Phá sản 2014 , Luật Thi hành án dân sự 2008, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014 ( gọi chung cả 2 luật lả là Luật Thi hành án dân sự 2014). Việc thi hành quyết định tuyên bố bao gồm hai nôi dung chủ yếu.Một là thi hành các vấn đề pháp lý về hành chính như: chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, chấm dứt quyền hạn của đại diện pháp luật.
Hai là thi hành các nghĩa vụ về tài sản. Việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản đối với phần nghĩa vụ về tài sản là trường hợp thi hành án chủ động, chỉ 7 có thể thực hiện bởi cơ quan thi hành án dân sự, và đây là trọng tâm nghiên cứu của luận văn.2 Đặc điểm của thi hành quyết định tuyên bố phá sản Thi hành quyết định tuyên bố phá sản gắn liền với các hoạt động của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu phá sản. Cũng như các vụ án dân sự, giải quyết vụ việc phá sản và thi hành án phá sản là hai hoạt động song song, cùng tồn tại với mục đích đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuyên bố phá sản là tiền đề của thi hành án dân sự, không có quyết định tuyên bố phá sản thì không có thi hành án.
Ngược lại, thi hành án với vai trò đảm bảo tính khả thi thực hiện của quyết định tuyên bố phá sản trên thực tế. Do đó, quyết định này có tính bảo đảm vì được thực hiện dựa trên căn cứ pháp lý và được sự bảo vệ của pháp luật. Thi hành quyết định tuyên bố phá sản còn có tính chấp hành vì các chủ thể có thẩm quyền thi hành không được vượt quá phạm vi nội dung quyết định tuyên bố phá sản do Tòa án ban hành và đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, không phải lúc nào các đối tượng đã bị tuyên bố phá sản cũng tự nguyện hợp tác.
Một số trường hợp còn có hành vi tẩu tán tài sản hay cản trở việc đấu giá, thanh lý tài sản. Điều này cho thấy trong thủ tục thi hành án, phương pháp có tính mệnh lệnh là phương pháp có tính đặc thù và ý nghĩa không thể không có. Quyết định của Tòa án đóng vai trò như một sự răn đe về mặt pháp lý. Nếu không chấp thuận thi hành, họ sẽ phải đối diện với các biện pháp cưỡng chế của chủ thể có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, thi hành án phá sản còn có tính quản lí vì hoạt động thi hành án luôn đòi hỏi các người tổ chức thi hành phải lên kế hoạch, kiểm tra, xử lí. nhằm kiểm soát hiệu quả doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản. Điều này này nhằm mục đích buộc các chủ thể nêu trên phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong quyết định của Toà án. Một quyết định tuyên bố phá sản có hiệu quả đòi hỏi bên có thẩm quyền thi hành phải có tính khách quan, nghĩa là việc một bên thứ ba can thiệp trái pháp luật vào hoạt động này là không thể chấp nhận.
Dĩ nhiên, bên cạnh tính độc lập về mặt pháp lý thì công tác thi hành án cũng cần có sự phối hợp của nhiều chủ thể xuyên suốt quá trình thi hành án. Do vậy, khi thi hành quyết định tuyên 8 bố phá sản cần có sự phối hợp giữa 02 nhóm đối tượng là cơ quan tư pháp và cơ quan hành pháp, giữa cơ quan thi hành án và các chủ thể quản lý, thanh lý tài sản thì mới giúp đảm bảo thi hành tất cả nội dung trong quyết định này.2 Lịch sử phát triển của pháp luật về thi hành quyết định tuyên bố phá sản tại Việt Nam Pháp luật về phá sản được xem là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản. Đây là một chế định không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, bởi bản chất họat động kinh doanh luôn tồn tại sự cạnh tranh; dẫn đến những chủ thể không đúng vững được sẽ phải chấm dứt hoạt động và biến mất. Tuy nhiên, trong nền kinh tế giai đoạn trước năm 1986 thì mọi tài sản dùng để sản xuất kinh doanh đều thuộc sở hữu tập thể.
Các chủ thể kinh doanh thời điểm này hầu như không thể tự chủ trong hoạt động kinh doanh, mọi hoạt động đều bắt buộc phải tuân theo kế hoạch của Nhà nước.Bên cạnh những công ty , xí nghiệp hoạt động tốt , cũng có nhiều công ty, xí nghiệp, hợp tác xã hoạt động thiếu hiệu quả, “lời giả, lỗ thật” và hoạt động “trốn nợ” diễn ra thường xuyên bằng cách sáp nhập, giải thể để chấm dứt hoạt động. Tóm lại, trong giai đoạn này không tồn tại cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh nên không thể có tình trạng mất khả năng thanh toán, nói cách khác là không có phá sản. Không có phá sản nghĩa là không có pháp luật về phá sản và pháp luật về thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Chính vì vậy, pháp luật về thi hành án phá sản chỉ có thể tìm hiểu từ khi Việt Nam mở cửa thị trường, cụ thể là từ thời điểm Quốc Hội thông qua Luật Phá sản doanh nghiệp 1993.Thi hành quyết định tuyên bố phá sản trong Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 Tại Việt Nam, Luật Phá sản đầu tiên được ban hành trong bối cảnh chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần.
Thời điểm này đánh dấu sự xuất hiện của khái niệm cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Đối tượng nào làm ăn thua lỗ, hoặc không thể thanh toán các khoản nợ đến hạn sẽ 9 buộc phải chấm dứt họat động. Trong bối cảnh đó, Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 ra đời như một biện pháp điều chỉnh toàn bộ các vấn đề liên quan đến phá sản; giúp duy trì tính trật tự khi rút lui khỏi thị trường của các doanh nghiệp và đảm bảo không để lại hậu quả xấu cho nền kinh tế và xã hội. Thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản Theo Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, trách nhiệm thi hành quyết định tuyên bố phá sản thuộc thẩm quyền của Phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.
Trưởng phòng thi hành án sẽ chỉ định Chấp hành viên phụ trách thi hành quyết định tuyên bố phá sản, đồng thời ra quyết định thành lập và thực hiện giám sát Tổ thanh toán tài sản. Căn cứ khoản 3 Điều 42 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 quy định: “Thành phần Tổ thanh toán tài sản gồm có: Chấp hành viên - cán bộ Phòng thi hành án; đại diện các cơ quan tài chính, ngân hàng cùng cấp; đại diện chủ nợ; đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn; đại diện doanh nghiệp bị phá sản. Tổ thanh toán tài sản do Chấp hành viên làm tổ trưởng. Thành phần của Tổ thanh toán tài sản cũng gần giống như thành phần của Tổ quản lý tài sản được thành lập khi ra Quyết định mở thủ tục phá sản, chỉ khác ở người tổ trưởng của Tổ quản lý tài sản phải là cán bộ của Tòa án.
Vì lẽ đó, luật quy định thêm là thành viên Tổ quản lý tài sản có thể được chỉ định tham gia Tổ thanh toán tài sản để thi hành quyết định tuyên bố phá sản.2 Thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản Sau khi có quyết định thành lập, theo quy định tại Điều 44 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 thì Tổ thanh toán tài sản có những nhiệm vụ, quyền hạn như: “…nhận bàn giao tài sản và các giấy tờ, tài liệu có liên quan từ Tổ quản lý tài sản; thu hồi và quản lý tất cả tài sản, giấy tờ, sổ sách kế toán và con dấu của doanh nghiệp phá sản; phát hiện và yêu cầu Chấp hành viên cho thu hồi lại tài sản của doanh nghiệp hoặc giá trị tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp đã bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp theo quy định tại Điều 45 của Luật này…”. 10 Về phía Chấp hành viên được phân công phụ trách việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo Điều 43 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: “…ra quyết định thu hồi và bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản; thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định tuyên bố phá sản của Thẩm phán;ra quyết định phong tỏa các tài khoản của doanh nghiệp phá sản có ở các ngân hàng; mở tài khoản mới ở ngân hàng để gửi các khoản tiền thu được từ việc thu hồi các khoản cho vay của doanh nghiệp phá sản và từ việc bán đấu giá các tài sản của doanh nghiệp phá sản…”. Như vậy, căn cứ quyết định của Chấp hành viên, Tổ thanh toán tài sản sẽ tiến hành tổ chức bán đấu giá các tài sản của doanh nghiệp.