Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bảo đảm an sinh xã hội giữ vai trò then chốt trong chiến lược ổn định và phát triển bền vững của mỗi quốc gia, đóng vai trò là công cụ điều tiết kinh tế thị trường nhằm gắn kết tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Tại Việt Nam, hệ thống chính sách an sinh xã hội được cụ thể hóa qua nhiều chủ trương lớn, tiêu biểu như Nghị quyết số 15-NQ/TW năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng với mục tiêu hướng tới 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội và 35% tham gia bảo hiểm thất nghiệp vào năm 2020. Mục tiêu này tiếp tục được mở rộng thông qua Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội và Quyết định số 488/2017/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017–2025, tầm nhìn đến năm 2030 (MPSARD).

Mặc dù hệ thống bảo hiểm xã hội đã triển khai các chế độ thai sản, tử tuất, thất nghiệp, pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn chưa thiết lập chế độ "trợ cấp gia đình" độc lập theo tiêu chuẩn lao động quốc tế. Các khoản hỗ trợ tài chính cho gia đình nuôi con nhỏ chủ yếu được thực hiện lồng ghép qua chính sách trợ giúp xã hội diện hẹp dựa trên cơ chế thẩm tra gia cảnh (cụ thể là Nghị định số 20/2021/NĐ-CP). Bối cảnh Việt Nam đang tiến hành các biện pháp chuẩn bị phê chuẩn Công ước số 102 (năm 1952) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về An sinh xã hội (Tiêu chuẩn tối thiểu) đòi hỏi phải có nghiên cứu chuyên sâu về nhánh an sinh này.

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành, đánh giá mức độ tương thích với tiêu chuẩn lao động quốc tế, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện trợ cấp gia đình tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:

  1. Làm rõ khái niệm, đặc điểm và phân tích ý nghĩa của trợ cấp gia đình/trợ cấp trẻ em đối với người lao động, gia đình, Nhà nước và toàn xã hội.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện chế độ trợ cấp cho trẻ em tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; đối chiếu và đánh giá tính tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế.
  3. Đề xuất các quan điểm, định hướng và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp luật, nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi chế độ trợ cấp gia đình tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam điều chỉnh về trợ cấp gia đình, cùng thực tiễn áp dụng các chính sách này trong mối tương quan với tiêu chuẩn lao động quốc tế.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 nội dung pháp lý cốt lõi gồm phạm vi áp dụng, điều kiện hưởng, thời gian hưởng và mức hưởng, nguồn tài chính thực hiện trợ cấp gia đình. Đề tài không đi sâu vào các nội dung thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết tranh chấp pháp lý.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực trạng và thực tiễn áp dụng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam; kết hợp so sánh, đối chiếu quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia (CHLB Đức, Pháp, Bồ Đào Nha, Croatia, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Nam Phi, Mexico).
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu tổng quan các văn bản pháp luật, chú trọng thu thập và phân tích dữ liệu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay (2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc chuyên ngành Luật Lao động, mang tính chất của một nghiên cứu lý luận pháp lý kết hợp luật học so sánh và phân tích thực tiễn thực thi chính sách an sinh xã hội.

Hệ thống cơ sở lý thuyết và văn bản pháp luật làm nền tảng bao gồm:

  • Các văn kiện quốc tế: Khoản 2 Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948; Điều 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 27 Công ước về Quyền Trẻ em của Liên Hợp Quốc; Điều 16 Hiến chương Xã hội Châu Âu năm 1996 (sửa đổi); Phần VII (các Điều từ 40 đến 45) và Điều 71 Công ước số 102 (năm 1952) của ILO về An sinh xã hội (Tiêu chuẩn tối thiểu).
  • Hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Trẻ em năm 2016; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Luật Việc làm năm 2013; Luật Người khuyết tật năm 2010; các văn bản dưới luật gồm Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, Nghị định số 56/2017/NĐ-CP, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, Nghị định số 146/2018/NĐ-CP, Nghị định số 81/2021/NĐ-CP, Nghị định số 24/2023/NĐ-CP.
  • Khái niệm công cụ: Tác giả xác định "Trợ cấp gia đình là khoản trợ cấp có thể bằng hiện vật hoặc tiền mặt mà chính phủ hoặc những tổ chức khác cung cấp cho các gia đình có gánh nặng về trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc con cái nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói cũng như nâng cao phúc lợi cho trẻ em".

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp so sánh luật học đối chiếu các chế định giữa chuẩn mực ILO và quy định của các quốc gia; phương pháp thống kê xã hội học xử lý các dữ liệu thứ cấp.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thống kê chính thức từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Bảo trợ xã hội), Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, báo cáo nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế (EPRI) và Ngân hàng Thế giới (World Bank).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trợ cấp gia đình và pháp luật về trợ cấp gia đình

Chương này tập trung làm rõ nguồn gốc pháp lý, bản chất và cấu trúc lý luận của chế định trợ cấp gia đình. Tác giả phân tích hai đặc trưng bản chất của an sinh xã hội: sự tham gia định hướng, bảo trợ nguồn lực của Nhà nước và quyền an sinh gắn liền với quyền con người phát sinh ngay từ khi cá nhân chào đời. Bên cạnh đó, trợ cấp gia đình mang hai nét đặc thù: thường gắn với cơ chế thẩm tra gia cảnh (kiểm tra khả năng tài chính của hộ gia đình) và đối tượng thụ hưởng trực tiếp là trẻ em nhưng chủ thể đại diện tiếp nhận nguồn tiền/hiện vật là cha mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng.

Về phương diện ý nghĩa, trợ cấp gia đình đem lại các tác động đa chiều:

  1. Đối với người lao động và gia đình: Hỗ trợ bù đắp chi phí sinh hoạt khi giảm hoặc mất thu nhập; cải thiện tiếp cận giáo dục (thực tiễn chương trình Oportunidades tại Mexico chứng minh tỷ lệ nhập học trung học cơ sở tăng 6% ở nam và 9% ở nữ, tỷ lệ bỏ học giảm 24%; chương trình Child Support Grant tại Nam Phi hỗ trợ rõ rệt cho trẻ em gái); bảo đảm dinh dưỡng trong 1.000 ngày đầu đời, giảm suy dinh dưỡng thấp còi.
  2. Đối với Nhà nước và xã hội: Xóa bỏ nguyên nhân kinh tế dẫn tới lao động trẻ em (báo cáo phối hợp giữa ILO và UNICEF ngày 18/5 khẳng định an sinh xã hội giúp hạn chế cú sốc kinh tế hộ gia đình); giảm nghèo và thu hẹp bất bình đẳng (Nam Phi thu hẹp 68% khoảng cách nghèo đói; nghiên cứu của ODI và UNICEF tại 15 quốc gia thu nhập cao cho thấy phúc lợi phổ cập trẻ em làm giảm tỷ lệ nghèo trẻ em bình quân 5 điểm phần trăm); hạn chế xu hướng rút bảo hiểm xã hội một lần của lao động trẻ (giảm bớt áp lực tài chính ngắn hạn, bù đắp mức tổn thất phúc lợi trung bình ước tính 8,5% khi tham gia đóng bảo hiểm xã hội).

Về nội dung pháp luật, nghiên cứu hệ thống hóa các tiêu chuẩn của Công ước số 102 (Phần VII và Điều 71):

  • Phạm vi áp dụng (Điều 41): Xác định qua 4 phương thức tính diện bao phủ (tối thiểu 50% người làm công ăn lương, hoặc 20% dân số hoạt động kinh tế thường trú, hoặc toàn bộ người thường trú có phương tiện sinh sống không vượt giới hạn quy định, hoặc 50% người làm công ăn lương trong các cơ sở công nghiệp sử dụng từ 20 lao động trở lên). Độ tuổi trẻ em chuẩn mực là dưới 15 tuổi hoặc dưới tuổi hết bắt buộc học phổ thông.
  • Điều kiện hưởng (Điều 40, Điều 43): Người được bảo vệ phải chịu trách nhiệm cấp dưỡng con cái và hoàn thành thời gian đóng bảo hiểm/làm việc tối thiểu 3 tháng hoặc thời gian cư trú 1 năm.
  • Thời gian hưởng và mức hưởng (Điều 42, Điều 44): Trợ cấp chi trả định kỳ bằng tiền hoặc hiện vật (thực phẩm, quần áo, nhà ở). Tổng giá trị trợ cấp phải đạt mức tối thiểu: bằng 3% mức lương tham chiếu nhân với tổng số con cái của người được bảo vệ, hoặc bằng 1,5% mức lương tham chiếu nhân với tổng số con cái của toàn bộ người thường trú.
  • Nguồn tài chính (Điều 71): Thực hiện theo nguyên tắc tài trợ tập thể qua thuế hoặc đóng góp bảo hiểm; người làm công ăn lương không phải chịu quá 50% tổng chi phí bảo vệ cho bản thân và gia đình; Nhà nước chịu trách nhiệm chung về tính bền vững tài chính.
Quốc gia Đối tượng Độ tuổi chuẩn Ngoại lệ đi học Ngoại lệ khuyết tật Thẩm tra gia cảnh
Áo Cư dân 18 tuổi Đến 24 tuổi (học nghề/đại học) Đến 25 tuổi Không áp dụng
Croatia Cư dân 15 tuổi Đến 19 tuổi (học trung học) Áp dụng ngoại lệ Áp dụng
CHLB Đức Cư dân 18 tuổi Đến 25 tuổi (học nghề/đại học) Không giới hạn tuổi Không áp dụng
Tây Ban Nha Cư dân 18 tuổi Đến 20 tuổi (học trung học) Áp dụng ngoại lệ Áp dụng
Ba Lan Cư dân 18 tuổi Đến 25 tuổi (học nâng cao) Đến 24 tuổi Áp dụng
Cộng hòa Séc Cư dân 15 tuổi Đến 26 tuổi (trung học/đại học) Đến 26 tuổi Áp dụng
Quốc gia Mức trợ cấp hàng tháng Mức lương tối thiểu Tỷ lệ trợ cấp / Lương tối thiểu (%) Điều chỉnh theo tuổi Điều chỉnh theo thu nhập Điều chỉnh theo số con
Áo 172,4 € 1.750 € 9,8% Áp dụng Không áp dụng Áp dụng
Croatia 299,34 HRK 623,7 € 6,6% Không áp dụng Áp dụng Áp dụng
Síp 39,58 € 870 € 4,5% Không áp dụng Áp dụng Áp dụng
Cộng hòa Séc 25 € 630 € 3,9% Áp dụng Áp dụng Không áp dụng
CHLB Đức 219 € 1.621 € 13,5% Không áp dụng Không áp dụng Áp dụng
Ba Lan 21 € 650 € 3,2% Áp dụng Áp dụng Không áp dụng

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ cấp gia đình và thực tiễn thực hiện

Chương 2 phản ánh bức tranh pháp lý và số liệu thực tế tại Việt Nam: nước ta chưa có chế độ trợ cấp gia đình độc lập thuộc trụ cột bảo hiểm xã hội, mà chính sách dành cho trẻ em chủ yếu vận hành theo cơ chế trợ giúp xã hội thuộc diện ngân sách nhà nước cấp và thực hiện thẩm tra gia cảnh theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

Căn cứ Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, diện thụ hưởng trợ cấp hàng tháng bao gồm 4 nhóm trẻ em và 1 nhóm người nuôi dưỡng: (1) Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng; (2) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo; (3) Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, cận nghèo tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi khó khăn; (4) Trẻ em khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng; (5) Người đơn thân nghèo, cận nghèo đang nuôi con.

Chỉ tiêu thống kê trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Năm 2015 Năm 2016
Tổng số trẻ em dưới 16 tuổi 26.203.000 26.203.000
Tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 1.453.441 1.444.792
Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi 170.000 156.016
Trẻ em tàn tật / khuyết tật 1.185.352 1.185.000
Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học 11.000 11.000
Trẻ em nhiễm HIV/AIDS 5.000 5.000
Trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc 15.000 15.000
Trẻ em lang thang 6.000 6.000
Trẻ em bị xâm hại tình dục 1.545 1.206
Trẻ em nghiện ma túy 1.059 900
Người chưa thành niên vi phạm pháp luật 11.150 11.150
Trẻ em làm việc xa gia đình 11.150 11.150

Đến cuối năm 2017, toàn quốc ghi nhận khoảng 26 triệu trẻ em dưới 16 tuổi, trong đó có gần 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và khoảng 2,1 triệu trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên tổng số trẻ em giảm dần xuống 7,16% (năm 2019) và khoảng 7,0% (cuối năm 2020). Tuy nhiên, số lượng trẻ thực tế được nhận trợ cấp tiền mặt thường xuyên rất nhỏ: năm 2022 mới có 388.000 trẻ em được hỗ trợ (gồm 16.000 trẻ dưới 16 tuổi mất nguồn nuôi dưỡng; 146.000 trẻ dưới 3 tuổi diện nghèo vùng khó khăn; khoảng 500 trẻ nhiễm HIV nghèo; 141.000 trẻ khuyết tật) cùng khoảng 85.000 người đơn thân nghèo nuôi con.

Về mức hưởng, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội từ ngày 01/7/2021 là 360.000 đồng/tháng (thay thế mức cũ 270.000 đồng/tháng theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP):

  • Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng: Dưới 4 tuổi hưởng hệ số 2,5 (900.000 đồng/tháng); từ đủ 4 tuổi trở lên hưởng hệ số 1,5 (540.000 đồng/tháng). Nếu đủ 16 tuổi đang học văn hóa, học nghề, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất thì được tiếp tục hưởng đến tối đa không quá 22 tuổi với hệ số 1,5 (540.000 đồng/tháng).
  • Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo: Dưới 4 tuổi hưởng hệ số 2,5 (900.000 đồng/tháng); từ đủ 4 đến dưới 16 tuổi hưởng hệ số 2,0 (720.000 đồng/tháng).
  • Trẻ em khuyết tật nặng/đặc biệt nặng hưởng 720.000 đồng/tháng; cha mẹ đơn thân nghèo hưởng hệ số 1,0 (360.000 đồng/tháng).

Tổng kinh phí chi trả trợ cấp hàng tháng cho 5 nhóm này năm 2022 ước tính đạt 2.728 tỷ đồng, ở mức rất thấp khi đối chiếu với quy mô trẻ em toàn quốc.

Bên cạnh trợ giúp xã hội tiền mặt trực tiếp, chính sách hỗ trợ trẻ em được thực hiện qua các hình thức gián tiếp và lồng ghép:

  • Bảo hiểm y tế: Ngân sách nhà nước đóng thẻ BHYT miễn phí 100% cho toàn bộ trẻ em dưới 6 tuổi (ngân sách trung ương phân bổ 6.558 tỷ đồng năm 2017 và 7.063 tỷ đồng năm 2018). Học sinh, sinh viên được ngân sách hỗ trợ 30% mức đóng BHYT; tỷ lệ bao phủ HSSV tăng đều từ 94,2% (17,4 triệu học sinh năm học 2018–2019) lên 95,2% (17,7 triệu học sinh năm 2019–2020) và vượt 18 triệu học sinh vào năm học 2020–2021.
  • Bảo hiểm xã hội thai sản: Luật BHXH 2014 quy định trợ cấp một lần khi sinh con và thời gian nghỉ chăm sóc con (đối với nam lao động nghỉ từ 5 đến 14 ngày làm việc theo Nghị định số 38/2019/NĐ-CP).
  • Giáo dục và đào tạo: Nghị định số 81/2021/NĐ-CP điều chỉnh chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập. Chi thường xuyên ngân sách cho giáo dục giai đoạn 2011–2019 chiếm bình quân 15% tổng chi ngân sách và đạt 4% GDP (tăng từ 78.206 tỷ đồng năm 2010 lên 245.235 tỷ đồng năm 2019, trong đó gần 70% dành cho người dưới 18 tuổi).
  • Giảm trừ gia cảnh thuế thu nhập cá nhân: Cho phép giảm trừ 4,4 triệu đồng/tháng đối với mỗi người phụ thuộc dưới 18 tuổi, áp dụng cho nhóm lao động làm công ăn lương chịu thuế.

Về hạn chế thực tiễn, văn bản chỉ rõ 3 nút thắt chính: (1) Hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực và cơ sở vật chất khiến quy mô hỗ trợ bị thu hẹp (các trường công lập thiếu kinh phí hỗ trợ chuyên biệt cho học sinh khuyết tật); (2) Thiếu hụt thông tin và nhận thức của người dân, khiến nhiều gia đình vùng sâu vùng xa không tiếp cận được các quyền lợi trợ cấp sẵn có; (3) Chính sách bị phân tán, thiếu đồng bộ giữa cấp trung ương và địa phương, dẫn tới tình trạng cùng một chế độ nhưng mức độ thụ hưởng không đồng đều giữa các địa bàn.

Chương 3: Sự tương thích của pháp luật Việt Nam về trợ cấp gia đình với tiêu chuẩn lao động quốc tế

Chương này tiến hành đối chiếu pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực của Công ước số 102 theo 4 phương diện:

  1. Phạm vi áp dụng: Công ước số 102 hướng tới diện bao phủ rộng khắp dựa trên mối quan hệ lao động hoặc nơi cư trú thường xuyên. Pháp luật Việt Nam chưa thiết lập chế độ trợ cấp gia đình trong hệ thống BHXH bắt buộc và tự nguyện, mà thu hẹp đối tượng bảo trợ theo diện "trợ cấp tập trung vào nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt" (khoảng 388.000 trẻ em năm 2022).
  2. Điều kiện hưởng: Công ước số 102 quy định điều kiện thời gian đóng phí tối thiểu ngắn (3 tháng) hoặc 1 năm cư trú. Ở Việt Nam, các điều kiện tiếp cận trợ cấp gắn liền với thủ tục thẩm tra gia cảnh khắt khe, xác nhận hồ sơ hộ nghèo, cận nghèo hoặc tình trạng khuyết tật nặng.
  3. Thời gian và mức hưởng: Tiêu chuẩn quốc tế bảo đảm quyền lợi định kỳ đến khi trẻ đạt 15 tuổi với công thức tối thiểu 1,5% – 3% lương tham chiếu. Ở Việt Nam, mức hưởng được xác định bằng hệ số nhân với mức chuẩn trợ cấp xã hội (360.000 đồng/tháng), tổng kinh phí 2.728 tỷ đồng năm 2022 thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn tính toán theo Điều 44 Công ước 102.
  4. Cơ chế tài chính: Công ước 102 khuyến khích cơ chế tài trợ hỗn hợp (thuế kết hợp quỹ bảo hiểm xã hội đóng - hưởng). Tại Việt Nam, nguồn tài chính hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, thiếu sự chia sẻ trách nhiệm của người sử dụng lao động và quỹ bảo hiểm xã hội.

Chương 4: Kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về trợ cấp gia đình

Trên cơ sở đánh giá khoảng cách tương thích, chương này đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Phương hướng: Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, mở rộng diện bao phủ theo vòng đời, từng bước giảm phụ thuộc vào thẩm tra gia cảnh để tiến tới quyền an sinh phổ quát cho trẻ em.
  • Hoàn thiện lập pháp: Bổ sung chế định trợ cấp trẻ em/trợ cấp gia đình vào Luật Bảo hiểm xã hội; tích hợp gói quyền lợi ngắn hạn cho lao động có con nhỏ nhằm giữ chân người lao động trong hệ thống, hạn chế rút bảo hiểm xã hội một lần; nâng mức chuẩn trợ cấp xã hội tương xứng với mức sống tối thiểu.
  • Nâng cao hiệu quả thực thi: Cải cách quy trình thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý chi trả trợ cấp, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền tại vùng sâu vùng xa, bảo đảm tính bền vững tài chính cho ngân sách trợ giúp xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu thực chứng:

  • Khái quát toàn diện khoảng trống lập pháp: Hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện chưa có chế độ trợ cấp gia đình theo tiêu chuẩn quốc tế; mạng lưới trợ giúp xã hội tiền mặt theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP mới bao phủ được 388.000 trẻ em (năm 2022), với tổng chi 2.728 tỷ đồng trên tổng số hơn 26 triệu trẻ em dưới 16 tuổi.
  • Đo lường mức độ can thiệp tài chính: Mức chuẩn trợ cấp xã hội 360.000 đồng/tháng và các hệ số hưởng (1,5 đến 2,5 tương đương 540.000 đồng đến 900.000 đồng/tháng) chưa tương thích với cách xác định mức hưởng tối thiểu theo lương tham chiếu quy định tại Điều 44 Công ước số 102 của ILO.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tại Trường Đại học Luật Hà Nội tiếp cận trực diện đề tài trợ cấp gia đình dưới góc độ đối chiếu với Công ước số 102. Tác giả đã chứng minh mối liên hệ giữa việc áp dụng trợ cấp gia đình với việc giảm thiểu tỷ lệ rút bảo hiểm xã hội một lần, cung cấp luận cứ cho việc cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được tác giả nêu rõ:

  • Giới hạn nội dung: Do thời gian và dung lượng quy định, đề tài chỉ tập trung vào 4 nội dung pháp lý cốt lõi (phạm vi, điều kiện, mức hưởng, nguồn tài chính), chưa thể mở rộng sang các chế định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và cơ chế giải quyết tranh chấp an sinh xã hội.
  • Giới hạn dữ liệu: Hệ thống thống kê quốc gia hiện thiếu dữ liệu phân tầng chi tiết về mức thu nhập của cha mẹ và số lượng trẻ em trong các hộ gia đình dưới ngưỡng thu nhập nhất định, dẫn đến khó khăn khi áp dụng mô hình định lượng mức hưởng theo Điều 43 Công ước số 102.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần đi sâu phân tích khả năng cân đối quỹ bảo hiểm xã hội khi tích hợp gói trợ cấp gia đình ngắn hạn, và đánh giá tác động ngân sách cụ thể trong lộ trình phê chuẩn Phần VII Công ước số 102 của ILO tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm độc giả:

  • Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Luật Lao động, Luật An sinh xã hội và Xã hội học pháp luật: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật có tính hệ thống về tiêu chuẩn lao động quốc tế (đặc biệt là Công ước số 102) và các mô hình trợ cấp trẻ em tại các quốc gia phát triển.
  • Cán bộ làm công tác tham mưu, lập pháp và quản lý an sinh xã hội: Phần phân tích thực trạng chính sách lồng ghép (Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, chính sách BHYT, giáo dục, giảm trừ gia cảnh) và các kiến nghị tại Chương 4 là tài liệu tham khảo trực tiếp cho quá trình sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội và hoàn thiện khuôn khổ trợ giúp xã hội tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đưa ra định nghĩa khái quát nào về "trợ cấp gia đình"?
Khóa luận định nghĩa: Trợ cấp gia đình là khoản trợ cấp có thể bằng hiện vật hoặc tiền mặt mà chính phủ hoặc những tổ chức khác cung cấp cho các gia đình có gánh nặng về trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc con cái nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói cũng như nâng cao phúc lợi cho trẻ em.

2. Công ước số 102 của ILO quy định công thức tính mức hưởng tối thiểu của trợ cấp gia đình như thế nào?
Căn cứ Điều 44 Công ước số 102, tổng giá trị trợ cấp gia đình được xác định theo 2 cách tính tối thiểu: (i) Bằng ít nhất 3% mức lương tham chiếu nhân với tổng số con cái của những người được bảo vệ; hoặc (ii) Bằng ít nhất 1,5% mức lương tham chiếu nhân với tổng số con cái của toàn bộ những người thường trú.

3. Tại Việt Nam, nhóm đối tượng nào đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng cho trẻ em theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP?
Chính sách hỗ trợ hàng tháng tập trung vào 5 nhóm: trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo; trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo/cận nghèo tại các xã, thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn; trẻ em bị khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng; và người đơn thân nghèo/cận nghèo đang nuôi con.

4. Nghiên cứu chỉ ra vai trò của trợ cấp gia đình đối với việc hạn chế rút bảo hiểm xã hội một lần ra sao?
Trợ cấp trẻ em định kỳ giúp người lao động trang trải các chi phí phát sinh khi nuôi con nhỏ, từ đó giảm áp lực kinh tế ngắn hạn – vốn là nguyên nhân chủ yếu khiến lao động trẻ rút bảo hiểm xã hội một lần khi chấm dứt hợp đồng. Qua đó, chính sách này giúp duy trì quá trình tích lũy đóng góp để họ đủ điều kiện hưởng lương hưu dài hạn.

5. Ba hạn chế lớn nhất trong thực tiễn thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho trẻ em ở Việt Nam là gì?
Nghiên cứu chỉ ra ba nguyên nhân hạn chế: thiếu hụt nguồn lực tài chính, nhân lực và cơ sở vật chất chuyên biệt; tình trạng thiếu thông tin và nhận thức của người dân tại vùng sâu vùng xa; và sự phân tán, thiếu đồng bộ giữa các chính sách từ trung ương đến địa phương.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định trợ cấp gia đình theo chuẩn mực Công ước số 102 của ILO và kinh nghiệm lập pháp quốc tế. Nghiên cứu đã làm rõ khoảng trống thể chế khi Việt Nam chưa thiết lập trợ cấp gia đình trong hệ thống bảo hiểm xã hội mà chủ yếu dựa vào mạng lưới trợ giúp xã hội hạn hẹp qua thẩm tra gia cảnh. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất là cơ sở khoa học và thực tiễn hữu ích phục vụ quá trình cải cách chính sách an sinh xã hội và lộ trình phê chuẩn Công ước số 102 tại nước ta.