Tổng quan luận án

Luận án phó tiến sĩ khoa học luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn" do nghiên cứu sinh Nguyễn Huy Ban thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1996, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.PTS Nguyễn Niên và PTS Phạm Công Trứ. Công trình thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, mã số 050501.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ sau tiền lương hoặc tiền công, các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội có vị trí quan trọng trực tiếp đối với đời sống của cán bộ, công nhân viên chức nhà nước và người lao động khi gặp rủi ro, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu hoặc nghỉ việc mất thu nhập. Ở Việt Nam, chính sách bảo hiểm xã hội đã thực hiện hơn 30 năm trong cơ chế tập trung, bao cấp. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, chính sách và pháp luật bảo hiểm xã hội cũ đã bộc lộ nhiều bất cập cả về bình diện lý luận, thực tiễn pháp lý và mô hình tổ chức thực hiện. Việc hoạch định chính sách, hoàn thiện pháp luật và xây dựng mô hình quản lý quỹ bảo hiểm xã hội phù hợp với cơ chế mới là vấn đề cấp bách nhưng phức tạp, đòi hỏi phải được nghiên cứu toàn diện và có hệ thống.

Mục đích nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 nội dung:

  1. Đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở nước ta trong thời gian qua và giai đoạn chuyển đổi kinh tế.
  2. Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tiễn Việt Nam cùng việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế, xây dựng hệ thống quan điểm lý luận và phương pháp luận về bảo hiểm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường.
  3. Khuyến nghị các phương hướng và giải pháp cụ thể làm cơ sở hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội, trọng tâm là luận chứng sự cần thiết và nội dung xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung làm sáng tỏ cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với bảo hiểm xã hội trên bình diện lý luận, đồng thời vận dụng vào điều kiện thực tiễn Việt Nam để đề xuất giải pháp. Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 4 nội dung chính:

  1. Xem xét cơ chế chung của việc điều chỉnh pháp luật đối với bảo hiểm xã hội.
  2. Nghiên cứu các đặc điểm của quá trình hình thành, phát triển pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật bảo hiểm xã hội ở một số quốc gia.
  3. Làm rõ những điểm mạnh cũng như điểm yếu của hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội hiện hành.
  4. Đề xuất các nội dung cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội và xây dựng đạo luật chuyên ngành tại Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại các quan điểm và công trình nghiên cứu lý luận, kinh tế, xã hội và pháp lý trong và ngoài nước liên quan đến bảo đảm xã hội và bảo hiểm xã hội:

  • Kinh điển Mác - Lênin: Luận án trích dẫn quan điểm của C. Mác về việc phải trích lập một phần giá trị thặng dư cho quỹ bảo hiểm xã hội để bảo đảm quá trình tái sản xuất mở rộng theo lũy tiến và quan điểm của V.I. Lênin về tính tất yếu của việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc cho người công nhân làm thuê trong điều kiện phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa.
  • Tài liệu học thuật quốc tế: Nghiên cứu quan điểm của nhà kinh tế và xã hội học người Anh Wiliam H. Beveridge (1879-1963) về định nghĩa bảo đảm xã hội gắn với bảo đảm việc làm và lợi tức khi mất khả năng lao động; quan điểm của Viện sĩ thông tấn luật học Liên Xô M. YpaXaeb về các quy định trợ cấp của nhà nước đối với công nhân viên chức, nông trang viên và quân nhân.
  • Tài liệu học thuật trong nước: Điểm luận điểm của PGS.PTS Phạm Minh Cương về bảo đảm xã hội với tư cách là hệ thống bao gồm bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội; quan điểm của PGS Tương Lai về bảo đảm xã hội gắn với môi trường giáo dục và văn hóa; quan điểm của PTS Mạc Văn Tiến phân tích bảo hiểm xã hội dưới góc độ quá trình tổ chức phân phối và phân phối lại thu nhập; luận điểm của ông Trần Quang Hùng (Phó Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội) về bảo hiểm xã hội là hệ thống thu nhập thay thế tiền lương.
  • Văn kiện pháp lý quốc tế: Các văn bản của Liên hợp quốc (Tuyên ngôn Nhân quyền 1948, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966) và hệ thống văn kiện của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) như Khuyến nghị số 67, Khuyến nghị số 69 (năm 1944), Công ước số 102 (năm 1952), Công ước số 118 (năm 1962), Khuyến nghị số 121 (năm 1964), Công ước số 128 (năm 1967), Công ước số 130 và Khuyến nghị số 134 (năm 1969), Công ước số 157 (năm 1982) và Khuyến nghị số 167 (năm 1983).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Trước thời điểm năm 1996, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận bảo hiểm xã hội ở góc độ chính sách xã hội đơn thuần hoặc các khía cạnh kinh tế cục bộ trong cơ chế bao cấp. Chưa có công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong quá trình triển khai, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống: Được sử dụng để phân tích các bộ phận cấu thành mạng lưới an toàn xã hội (bảo đảm xã hội, bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, bảo hiểm thương mại) và cơ chế vận hành của pháp luật bảo hiểm xã hội.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Áp dụng để so sánh pháp luật bảo hiểm xã hội của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế của ILO và hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới.
  • Phương pháp phân tích thống kê và lịch sử: Khái quát quá trình hình thành chính sách qua các thời kỳ lịch sử, phân tích các nguồn dữ liệu thực tế.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm:

  • Các số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
  • Dữ liệu cuộc Tổng điều tra dân số Việt Nam năm 1989.
  • Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1995 (các bản Hiến pháp, Bộ luật Lao động năm 1994, các Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư liên quan).
  • Hệ thống văn bản, công ước của ILO và đạo luật bảo hiểm xã hội của các nước trên thế giới.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận về sự điều chỉnh của pháp luật đối với bảo hiểm xã hội

Chương I trình bày các khái niệm cơ bản, phân định ranh giới giữa các thiết chế xã hội, phân tích các nguyên tắc và cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với bảo hiểm xã hội:

  1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản: Bảo hiểm xã hội được xác định là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ khi bị ngừng hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất khả năng lao động, thất nghiệp, tuổi già hoặc chết; đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho thân nhân của họ. Tác giả khái quát 4 đặc trưng cơ bản:

    • Đối tượng là người lao động và thân nhân của họ. Dữ liệu cuộc Tổng điều tra dân số năm 1989 cho thấy tỷ lệ người trong độ tuổi lao động ở Việt Nam chiếm 62% dân số.
    • Hoạt động theo nguyên tắc kết hợp giữa "lấy số đông bù số ít" (tương trợ cộng đồng) và "phân phối theo lao động", áp dụng mức trần tối đa và mức sàn tối thiểu (ví dụ năm 1994 đã bù lương hưu tối thiểu cho 6% số người hưởng lương hưu thấp hơn lương tối thiểu).
    • Nguồn tài chính hình thành từ sự đóng góp của 3 bên: người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước.
    • Hệ thống trợ cấp mang tính chất thay thế tiền lương, đa dạng, ổn định và thực hiện dài lâu (thống kê năm 1992 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy thời gian hưởng trợ cấp mất sức lao động trung bình là 35 năm, hưu trí trung bình là 19 năm).
  2. Phân biệt bảo hiểm xã hội với các lĩnh vực liên quan:

    • Cứu trợ xã hội: Trợ giúp tức thời hoặc lâu dài cho đối tượng không thể tự lo cuộc sống (người già cô đơn, trẻ mồ côi, tàn tật nặng, nạn nhân thiên tai) dựa vào ngân sách và lòng từ thiện, người hưởng không phải đóng góp (văn bản áp dụng gồm Thông tư số 202 ngày 26/11/1966; thống kê cuối năm 1993 TP. Hồ Chí Minh có 16 tổ chức từ thiện, Hà Nội có 12 tổ chức).
    • Ưu đãi xã hội: Đãi ngộ đối với người có công với đất nước (Sắc lệnh số 20/SL năm 1947, Sắc lệnh số 242/SL năm 1948, Nghị định số 980/TTg năm 1956, Nghị định số 161/CP năm 1964, Lệnh số 361/CTN năm 1994 ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công và Pháp lệnh Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; số liệu năm 1994 gồm 75 vạn thân nhân liệt sĩ, 38 vạn thương binh, 19 vạn bệnh binh, 840 anh hùng, 700 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 850 cán bộ tiền khởi nghĩa).
    • Bảo hiểm thương mại: Hoạt động kinh doanh kiếm lời ra đời từ thế kỷ XVI tại Genoa và Venice, tính phí theo lãi suất, tham gia tự nguyện và đối tượng gồm cả tài sản.
  3. Cơ chế điều chỉnh pháp luật và tác động kinh tế:

    • Pháp luật điều chỉnh các quyền hiến định (Điều 56 Hiến pháp năm 1992), chế độ đóng góp (Điều 149 Bộ luật Lao động: người sử dụng lao động đóng 15%, người lao động đóng 5%), chế độ chi trả và giải quyết tranh chấp (Chương XVI Bộ luật Lao động).
    • Tác động kinh tế: Tác giả dẫn chứng số liệu năm 1993 tại Philippines (quỹ bảo hiểm xã hội đạt 114 tỷ Peso, đầu tư 95 tỷ, tạo 6 vạn việc làm) và Singapore (quỹ đạt 41 tỷ SGD, đầu tư 30 tỷ, tạo 1,2 vạn việc làm).
Quốc gia Tiết kiệm quốc gia (triệu đơn vị tiền tệ) Tiết kiệm từ BHXH (triệu đơn vị tiền tệ) Tỷ trọng BHXH trong tiết kiệm quốc gia (%)
Canada 21.569,00 3.774,70 17,5
Mỹ 91.634,00 20.929,00 22,8
Ấn Độ 99.620,00 9.617,60 9,7
Nhật Bản 3.780.900,00 470.890,00 12,5
Pháp 205.968,00 6.841,70 3,3
Anh 9.508,00 1.786,00 18,8
Na Uy 12.555,00 2.163,00 17,2
Tunisia 255,10 56,73 22,2
Zambia 199,30 30,34 15,2
  1. Pháp luật quốc tế về bảo hiểm xã hội:
    • Đạo luật bảo hiểm xã hội đầu tiên ban hành tại Đức dưới thời Thủ tướng Bismarck (năm 1883 về ốm đau, 1884 về tai nạn lao động, 1889 về tuổi già và tàn tật).
    • Mốc thời gian ban hành luật bảo hiểm xã hội tại các nước: Áo (1906), Tiệp Khắc (1906), Australia (1908), Argentina (1909), Iceland (1909), Pháp (1910), Luxembourg (1911), New Zealand (1911), Ý (1919), Liên Xô (1922), Brazil (1923), Canada (1927), Nam Phi (1928), Hungary (1928), Chile (1934).
    • Công ước số 102 của ILO (thông qua ngày 28/6/1952) thiết lập 9 chế độ chuẩn mực và định khung mức hưởng trợ cấp:
Chế độ trợ cấp Điều kiện đối tượng tiêu chuẩn Tỷ lệ % tối thiểu so với thu nhập trước đó
Ốm đau Có vợ và 2 con 45% - 60%
Tai nạn lao động Có vợ và 2 con 50%
Tàn tật Có vợ và 2 con 50%
Thai sản Nữ lao động 45% - 70%
Tuổi già Đủ thâm niên quy định 40%
Tiền tuất Vợ góa và 2 con 40%
Thất nghiệp Có vợ và 2 con 45%

Chương II: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội và sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

Chương II tập trung phân tích 3 nội dung trọng tâm:

  1. Đặc điểm lịch sử hình thành và phát triển: Giai đoạn trước năm 1995, bảo hiểm xã hội ở Việt Nam chủ yếu áp dụng trong khu vực nhà nước (công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang). Toàn bộ nguồn chi trả do ngân sách nhà nước đảm nhiệm theo cơ chế bao cấp.
  2. Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội: Hệ thống pháp luật còn phân tán, thiếu đồng bộ; đối tượng áp dụng hẹp, chưa bao quát khu vực ngoài quốc doanh. Tỷ lệ thu nộp bảo hiểm xã hội từ các cơ quan, doanh nghiệp giai đoạn 1985-1993 đạt thấp, chỉ dao động từ 40% đến 48%. Quỹ bảo hiểm xã hội chưa được hình thành độc lập và chưa có cơ chế bảo toàn, tăng trưởng vốn.
  3. Sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện pháp luật: Sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi phải thiết lập cơ chế điều chỉnh pháp luật mới, bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bảo vệ quyền lợi người lao động và giảm tải gánh nặng chi trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước.

Chương III: Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

Chương III luận giải các định hướng, giải pháp và cấu trúc lập pháp cụ thể:

  1. Các quan điểm chủ yếu: Thực hiện xã hội hóa bảo hiểm xã hội; kết hợp hài hòa chính sách kinh tế với chính sách xã hội; quản lý tập trung thống nhất đi đôi với hạch toán độc lập.
  2. Các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện:
    • Mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng đối với mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế.
    • Thiết lập 2 loại hình tham gia: bắt buộc (đối với lao động có quan hệ hợp đồng lao động) và tự nguyện (đối với lao động tự do).
    • Xây dựng quỹ bảo hiểm xã hội độc lập với ngân sách nhà nước, thực hiện nguyên tắc tự cân đối thu - chi và cho phép đầu tư phần vốn nhàn rỗi để sinh lời.
    • Thực hiện bảo hiểm xã hội toàn diện với các chế độ ngắn hạn và dài hạn; tách bạch chức năng quản lý nhà nước về mặt hành chính với tổ chức sự nghiệp thực hiện chi trả và quản lý quỹ.
  3. Sự cần thiết ban hành Luật Bảo hiểm xã hội: Luận chứng việc nâng cao hiệu lực pháp lý từ các văn bản dưới luật thành một đạo luật hoàn chỉnh, quy định rõ quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, các chế độ trợ cấp, nguồn tài chính và cơ chế thanh tra, xử lý vi phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án nêu rõ các đóng góp học thuật và thực tiễn chính:

  • Về lý luận: Làm rõ khái niệm, ý nghĩa, bản chất pháp lý, phạm vi, đối tượng và các nguyên tắc nền tảng của bảo hiểm xã hội; phân định ranh giới giữa bảo hiểm xã hội với cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội và bảo hiểm thương mại; làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội trong nền kinh tế thị trường.
  • Về lịch sử pháp lý: Hệ thống hóa và xác định các đặc điểm cơ bản trong từng giai đoạn lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và trên thế giới.
  • Về thực tiễn và lập pháp:
    • Lập luận tính tất yếu của việc chuyển đổi cơ chế điều chỉnh pháp luật bảo hiểm xã hội từ bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
    • Đề xuất mô hình quỹ bảo hiểm xã hội độc lập, hạch toán thu - chi và đầu tư tăng trưởng nguồn tài chính.
    • Đề xuất phân định 2 loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện.
    • Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ việc xây dựng và ban hành Luật Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế và phạm vi: Do thời điểm hoàn thành vào năm 1996, nghiên cứu chủ yếu phản ánh bối cảnh Việt Nam vừa ban hành Bộ luật Lao động năm 1994 và bước đầu triển khai hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam độc lập. Các cơ chế đầu tư tài chính quỹ bảo hiểm xã hội và loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thời điểm nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ đề xuất khung lý luận và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, chưa có thực tiễn vận hành lâu năm tại Việt Nam để đánh giá định lượng sâu hơn.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở bao gồm: Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định chi tiết khi Luật Bảo hiểm xã hội được ban hành; xây dựng cơ chế giám sát tài chính và quản trị rủi ro trong hoạt động đầu tư sinh lời của quỹ bảo hiểm xã hội; mở rộng nghiên cứu chính sách bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế toàn dân.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu phục vụ cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp, hành pháp và các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật, Điều lệ Bảo hiểm xã hội và xây dựng dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh, sinh viên ngành luật học: Dùng làm tài liệu biên soạn giáo trình và giảng dạy môn Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Lao động và Lý luận Nhà nước và Pháp quyền.
  • Cán bộ quản lý ngành lao động, thương binh và xã hội, cơ quan bảo hiểm xã hội và tổ chức công đoàn: Cung cấp khung lý luận phục vụ công tác thanh tra, giám sát và thực thi chính sách bảo hiểm xã hội trên thực tế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Bảo hiểm xã hội khác biệt như thế nào so với cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội theo phân tích của tác giả?
    Trả lời: Bảo hiểm xã hội có đối tượng là người lao động, nguồn tài chính do người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước cùng đóng góp, mang tính ổn định dài hạn thay thế tiền lương. Cứu trợ xã hội hướng tới người không có khả năng tự lo cuộc sống (tàn tật, mồ côi, thiên tai), nguồn từ ngân sách hoặc từ thiện và người hưởng không phải đóng góp. Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt về vật chất và tinh thần của Nhà nước đối với người có công với cách mạng và đất nước (thương binh, liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng).

  2. Theo số liệu trong văn bản, thực trạng thu nộp bảo hiểm xã hội tại Việt Nam giai đoạn 1985-1993 đạt mức nào?
    Trả lời: Mặc dù pháp luật có quy định nghĩa vụ đóng góp của các cơ quan, doanh nghiệp, nhưng trong giai đoạn 1985-1993, tỷ lệ thu nộp bảo hiểm xã hội trên thực tế chỉ đạt từ 40% đến 48%.

  3. Theo Công ước số 102 của ILO (1952) được trích dẫn trong luận án, có bao nhiêu chế độ trợ cấp chuẩn mực?
    Trả lời: Công ước số 102 quy định 9 chế độ trợ cấp: ốm đau, chăm sóc y tế, thai sản, tuổi già, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tử tuất, thất nghiệp và trợ cấp gia đình.

  4. Luận án đã kiến nghị những giải pháp cơ bản nào để đổi mới mô hình bảo hiểm xã hội ở Việt Nam?
    Trả lời: Luận án kiến nghị mở rộng đối tượng cho mọi người lao động; phân định 2 loại hình bắt buộc và tự nguyện; tách quỹ bảo hiểm xã hội ra khỏi ngân sách nhà nước để hạch toán độc lập, tự cân đối thu - chi; cho phép dùng tiền nhàn rỗi đầu tư sinh lời; tách chức năng quản lý nhà nước hành chính với bộ máy sự nghiệp thực hiện; và xây dựng ban hành Luật Bảo hiểm xã hội.

  5. Thời điểm Việt Nam gia nhập và tái tham gia Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) được ghi nhận trong luận án là khi nào?
    Trả lời: Việt Nam gia nhập ILO vào ngày 26/01/1980, tạm dừng hoạt động từ năm 1983, thông báo tiếp tục hoạt động trở lại vào tháng 05/1992 và chính thức tham gia lại từ tháng 06/1992.

Kết luận

Luận án "Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Huy Ban là công trình nghiên cứu hệ thống về khía cạnh pháp lý của bảo hiểm xã hội trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam. Tác giả đã làm rõ bản chất lý luận, chuẩn mực quốc tế của ILO, đánh giá thực trạng thu nộp và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội trong nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp lập pháp quan trọng. Các luận cứ khoa học trong luận án đã đóng góp vào việc phân định loại hình bảo hiểm bắt buộc - tự nguyện, xây dựng quỹ bảo hiểm xã hội độc lập và cung cấp cơ sở phục vụ quá trình xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam.