Chương 1: Giới thiệu 1. Co sở của luận an Quan hệ lao động là quan hệ tự do ý chí. Khi tham gia vào quan hệ lao động bao giờ các bên cũng xuất phát từ lợi ích kinh tế của mình và một khi lợi ích đó không thoả mãn được thì không ai có thể ép buộc họ phải tham gia vào một quan hệ lao động nhất định. Nhưng quan hệ lao động còn bị chi phối bởi cung-cầu lao động, việc ký kết các hợp đồng lao động đơn lẻ sẽ bất lợi cho bên yếu thé, thường là phía lao động.
Bởi thế, có một phương tiện rất quan trọng giúp các bên cân bằng được lợi ích đồng thời khích lệ sự tăng trưởng lợi ích chung, đó là thoả ước lao động tập thé (thoả ước tập thé) và khi được sử dụng đúng đắn chúng sẽ trở thành phương tiện quan trọng điều chỉnh mối quan hệ lao động và hỗ trợ hiệu quả cho pháp luật lao động của nhà nước. Từ khi nước ta chuyên sang cơ chế thị trường, quan hệ lao động có nhiều biến đôi theo xu hướng các đối tác vừa hợp tác vừa cạnh tranh mạnh mẽ. Nhu cầu của thị trường lao động cần phải có những thoả ước tập thê có giá trị đích thực để hỗ trợ các bên thiết lập quan hệ hợp đồng lao động. Mặc dù Bộ luật lao động của nước CH.XHCN Việt Nam đã dành cả một chương dé xác định các nguyên tắc, điều kiện, trình tự thủ tục ký kết thoả ước lao động tập thể, hoạt động ký kết và thực hiện thoả ước tập thể ở các đơn vị cơ sở vẫn còn những yếu kém và mang nặng tính hình thức.
Theo báo cáo gần đây của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLDLDVN), trong số các doanh nghiệp có tô chức công đoàn cơ sở, tỷ lệ doanh nghiệp có thoả ước tập thé chiếm 65,22%. Trong đó, doanh nghiệp nhà nước: 96,33%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 57% và các doanh nghiệp khác: 59,21%.' Điều đáng nói là số doanh nghiệp có tô chức công đoàn cấp cơ sở của của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong khu vực ngoài quôc doanh chỉ chiêm khoảng ' Nguồn: Nghị quyết số 01/NQ-ĐCT của TLDLDVN ngày 18/6/2009 về “Đồi mới, nâng cao chất lượng thương lượng, ký kêt và thực hiện thoả ước lao động tập thê”, tr. 2 1 20%” số doanh nghiệp cùng loại trên thị trường lao động, do đó ty lệ các doanh nghiệp có thoả ước tập thể tương ứng sẽ chỉ khoảng 11% đến 12% trên tong số doanh nghiệp hiện có. Trong những năm trước tỷ lệ doanh nghiệp ký kết thoả ước tập thể còn thấp hơn.
Ví dụ, đối với các năm 2004, 2005, 2006 số doanh nghiệp ở khu vực ngoài quốc doanh có thoả ước tập thể chỉ chiếm 4,55%, 4,87% và 3,36%”. Hau hết các thoả ước tập thé được ký kết với chất lượng thấp, mang tinh hình thức, chủ yếu sao chép lại những quy định đã có của luật.” Chỉ khoảng gan 40% thoả ước tập thê đã ký kết có những nội dung có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao dong.” Nguyên nhân của tình trạng thoả ước tập thé phát triển kém đó là các quy định của pháp luật chưa hoàn thiện (quy định chưa rõ, chưa đầy đủ, chưa hợp lý), công đoàn yếu (do cả hạn chế trong pháp luật và cơ chế), nhận thức về thoả ước tập thể, về vai trò của đình công chưa day đủ. Sự thiếu vắng các thoả ước tập thé có chất lượng là một trở ngại đối với việc phát triển 6n định quan hệ lao động, chưa khơi dậy tối đa năng lực của xã hội vào phát triển kinh tế cũng như góp phan thúc đây sự bình dang và tiến bộ xã hội trong lao động. Tranh chấp lao động trong những năm gần đây lan rộng (năm 2003 số tranh chấp lao động được đưa đến toà án là 652, năm 2006: 820, năm 2007: 1022, năm 2008: 1709), số các vụ đình công cũng tăng (ví dụ, số đình công năm 2007 tăng 41% so với năm 2006, số vụ đình công năm 2008 tăng 30% so với năm 2007)’, công nhân phải làm việc trong những điều kiện tôi tệ; cuộc Ẫ nA ^ x aN z x NHI ` tA x: aN K 8 sông công nhân còn nhiêu khó khan do thời gian lam việc dài, tiên lương thâp, ? Nguồn: Báo cáo số 17/BC-TLĐ của TLDLDVN “Tổng kết đánh giá 19 năm thực hiện Luật Công đoàn ”, ngày 9/3/2010, tr.10 *Xem: Nguyén Năng Khánh (2008), "Thod ước lao động tập thể theo Pháp luật Lao động Việt Nam", Luậnán Tiên sỹ, xem phụ lục sô 2 (số liệu từ Viện Khoa học Lao động và các Vấn đề xã hội “MOLISA).
* Nguồn: Nghị quyết số 01/NQ-ĐCT của TLĐLĐVN ngày 18/6/2009 về “Đổi mới, nâng cao chất lượng thương lượng, ký kêt và thực hiện thoả ước lao động tập thể”, tr. 3, cũng xem: Báo cáo sô 17/BC-TLD của TLĐLĐVN “Tong kết đánh gia 19 năm thực hiện Luật Công đoàn ”, ngày 9/3/2010, tr.10 > Nguồn: Nghị quyết số 01/NQ-ĐCT của TLĐLĐVN ngày 18/6/2009 về “Đối mới, nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thé”, tr. 2 ° Nguồn: Báo cáo công tác xét xử của Toà án Nhân dân Tối cao các năm: 2003, 2006, 2007, 2008. TMOLISA (2008), Báo cáo Hội nghị triển khai công tác Lao động Thương binh và Xã hội năm 2009, tr.45 Š Nguồn: như trên, tr.45 đặc biệt trong hoàn cảnh lạm phát tăng cao.
Quan hệ lao động có nhiều yếu tô đối kháng. Nhu cầu điều chỉnh và làm hài hoà quan hệ lao động ngày càng trở nên cấp thiết. Hơn nữa, với đòi hỏi của một nền kinh tế hội nhập hiện nay, các đơn vi sử dụng lao động cần tăng cường trật tự, nề nếp, tác phong lao động công nghiệp, đảm bảo sức sản xuất, sức cạnh tranh lớn và gianh thé chi động trên thị trường, trong đó có cả việc đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế trong quan lý chất lượng hàng hoá cũng như trách nhiệm xã hội. của doanh nghiệp.
Trong điều kiện đó, học tập kinh nghiệm của các quốc gia nhằm làm lành mạnh quan hệ lao động, hỗ trợ hoạt động sản xuất tại các đơn vị cơ sở, trong đó có việc nghiên cứu ứng dụng pháp luật về thoả ước tập thé vào điều kiện Việt Nam là một hoạt động khoa học rất có ý nghĩa cả về mặt thực tiễn lẫn lý luận. Đối với Thuy Điền, thoả ước tập thể là một nét đặc sắc của quan hệ lao động và thị trường lao động. Hệ thống thoả ước tập thê phát triển tập trung ở mức cao trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật lao động. Nhờ sự hỗ trợ hiệu quả của hệ thống thoả ước tập thể, các văn bản pháp luật lao động của Nhà nước trong những năm qua hầu như được giữ nguyên, bởi hệ thống thoả ước tập thể năng động đã luôn biến đổi theo kịp những biến đổi diễn ra trên thị trường.
Có thể nói trong nhiều thập ky qua, thoả ước tập thé đã đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế bền vững của Thuy Điền. Với quan điểm học tập kinh nghiệm của Thụy Điền trong việc vận hành một nền kinh tế thị trường tự điều tiết (self-regulated based economy), trong việc thiết lập và thực thi hiệu quả pháp luật về thoả ước tập thé, tôi quyết định chon đề tài "Thoả ước lao động tập thể - Nghiên cứu so sánh giữa pháp luật lao động Việt Nam và Thuy Điển". Mục tiêu của nghiên cứu này là nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của thoả ước tập thé, các điều kiện và cơ chế pháp lý cần thiết cho một hệ thống thoả ước tập thể mạnh, từ đó góp phần nhất định vào việc hoàn thiện luật pháp về thương lượng tập thể và thoả ước tập thể, nâng cao chất lượng ký kết và thực hiện thoả ước tập thê ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong số các công trình đã được công bố, mảng dé tài về thoả ước tập thé mới chỉ chiếm một phần nhỏ bé.
Hiện tại cũng đã có một số công trình đã được thực hiện đưới dang khoá luận tốt nghiệp, luận văn tốt nghiệp, như "Thod ước lao động tập thể -Thực trạng ký kết và thực hiện ở Việt Nam" - Luận văn tốt nghiệp, tac gia Trần Hồng Vân (thực hiện năm 1996), ”7hoả ước lao động tập thé -Thực trạng ký kết và thực hiện ở Việt Nam" Khoá luận tốt nghiệp - Tác giả Bùi Thị Hương (thực hiện năm 1997), "Thoa ước lao động tập thể và thực tiễn áp đụng ở Vĩnh Phú", Khoá luận tốt nghiệp, tác giả Nguyễn Thị Hồng Việt (thực hiện năm 1997). Có một công trình được thực hiện ở cấp độ thạc sỹ với tên gọi: "Thoda ước lao động tập thể trong nên kinh tế thị trường - Những vấn dé lý luận và thực tiễn áp dụng" của tác giả Trần Thị Thuý Lâm (thực hiện năm 2001). Những công trình nghiên cứu trên cũng đã đề cập một số khía cạnh cụ thé về thoả ước tập thể như khái niệm, bản chất, các quy định hiện hành của pháp luật về nội dung của thoả ước tập thé, thủ tục ký kết thoả ước tập thé, van đề thoả ước tập thé vô hiệu. Các nghiên cứu đó cũng đưa ra một số đề xuất nhăm hoàn thiện pháp luật, qua đó nâng cao chất lượng ký kết và thực hiện thoả ước tập thể.
Tuy nhiên, do hạn chế về phạm vi nghiên cứu, cấp độ yêu cầu nghiên cứu, những công trình đó còn sơ lược. Gần đây có một công trình mới: luận án tiễn sỹ của tác giả Nguyễn Năng Khánh với tên gọi "Thod ước lao động tập thé theo pháp luật lao động Việt Nam" được công bố năm 2009 khi tôi đã thực hiện nghiên cứu của mình được 3 năm. Bản luận án này, cùng với các nghiên cứu trên, là nguồn tài liệu tham khảo quý cho tôi, tuy vậy cũng bị giới hạn bởi phạm vi nghiên cứu và chỉ tập trung vào các quy định pháp luật về thoả ước tập thé của Việt Nam. Về phan lý luận, chỉ có khái niệm, đặc điểm và các loại thoả ước tập thê được đề cập.
Trên các tạp chí, bài viết về thoả ước tập thê không nhiều và mỗi bài cũng chỉ đề cập đến từng khía cạnh đơn lẻ của thoả ước. Về các nghiên cứu ở Thụy Điển, tôi cũng tìm được một số luận án, bao gồm: “Lokala kollektivavtal: om lokala parters rdttsliga stdllning inom fackliga organisationer (Thoa ước tập thé cap doanh nghiệp)”, của tac giả 4 Kent Källström, Stockholm: LiberFérlag, (1979); “Collective wage bargaining and the impact of norms of fairness: an analysis based on the Norwegian experiences” cua Geir Høgsnes, Oslo: Univ.