CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH 1. Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho lao động thành phố trực thuộc tỉnh 1. Một số khái niệm 1. Việc làm, tạo việc làm Việc làm Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn. Tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1935) đưa ra quan niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”. Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm được quy định trong Bộ luật laođộng sửa đổi bổ sung năm 2019. Tại Điều 9, Chương II chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.
Dựa trên các quan niệm trên, ta có thể định nghĩa về việc làm như sau: Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm. Tạo việc làm Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2013), giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động”. Tạo việc làm có thể được hiểu theo hai khía cạnh khác nhau: Tạo việc làm theo nghĩa rộng: Tạo việc làm bao gồm những vấn đề liên 6 quan đến việc phát triển nguồn nhân lực. Nghĩa là quá trình diễn ra tử vấn đề giáo dục đào tạo và phổ cập nghề nghiệp để chuẩn bị cho người lao động, đến vấn đề tự do lao động và hưởng thụ xứng đáng với giá trị mà lao động của họ tạo ra, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Theo nghĩa này, vấn đề tạo việc làm gắn liền và được thực hiện thông qua các chính sách và các chương trình phát triển kinh tế chung của Đảng và Nhà nước. Không những thế, nó còn gắn liền với vấn đề phát triển giáo dục, đào tạo nghề cho người lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cùng với việc sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý để hưởng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Tạo việc làm theo nghĩa hẹp: Tạo việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc chưa có việc làm nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập và giảm tỉ lệ thất nghiệp. Nghĩa là nội dung tạo việc làm chỉ hạn chế trong khuôn khổ và nội dung các chính sách xã hội cụ thể của Nhà nước, tạo việc làm cho người lao động còn mang tính xã hội hóa, coi tự tạo việc làm và chủ động tìm kiếm việc làm là hướng quan trọng kết hợp với các chính sách của Nhà nước, chống ỷ lại vào Nhà nước.
Qua hai khái niệm trên ta thấy được tạo việc làm mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, có mục tiêu hướng vào sử dụng lao động, chống thất nghiệp và tìnhtrạng thiếu việc làm, đảm bảo tăng thu nhập. Khái niệm tạo việc làm theo nghĩa rộng và tạo việc làm theo nghĩa hẹp tuy có sự khác nhau, song chúng có mối quan hệ đan xen, bổ sung cho nhau và đều ảnh hưởng đến mục tiêu sử dụng, phát huy tối đa tiềm năng lao động của xã hội. Thất nghiệp, thiếu việc làm Thất nghiệp Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1935): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công thịnh hành”. 7 Như vậy người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm và có đăng ký tìm việc theo quy định.
Thất nghiệp là một khái niệm vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội, nó mang nghĩa ngược với có việc làm. Nói đến thất nghiệp là nói đến sự khó khăn cho việc hoạch định chính sách của các quốc gia. Tuy nhiên trên thực tế tỷlệ thất nghiệp ở mức hợp lý là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế. Vì vậy cần phải giữ mức tỷ lệ thất nghiệp sao cho hợp lý với trình độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
Thiếu việc làm Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1935): “Thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình là tình trạng những người làm việc ít hơn mức mà mình mong”. Thiếu việc làm diễn ra khi việc làm không tạo điều kiện, không đòi hỏi NLĐ sử dụng hết thời gian lao động làm việc theo chế độ và mang lại thu nhập dưới mức tối thiểu. Người thiếu việc làm là người trong tuần lễ điều tra có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm. Thiếu việc làm có hai dạng: – Thiếu việc làm vô hình: Là khi thời gian sử dụng cho sản xuất kinhdoanh không có hiệu quả dẫn đến thu nhập thấp, NLĐ phải làm việc bổ sung thêm để tăng thu nhập.
Người thiếu việc làm vô hình là người có thời gian làm việc tuy đủ hoặc vượt mức chuẩn quy định về đủ số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra nhưng việc làm có năng suất thấp, thu nhập thấp, công việc không phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ và họ có nhu cầu tìm việc làm thêm. – Thiếu việc làm hữu hình: Là khi thời gian làm việc thấp hơn mức bình thường. Người thiếu việc làm hữu hình là người có việc làm nhưng số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra ít hơn mức quy định chuẩn và họ có nhu cầu làm việc thêm. Lao động trái ngành nghề Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1935): “Lao động trái ngành, nghề là tình trạng người lao động làm việc khác với chuyên môn đã được đào tạo”.
Bên cạnh những ngành nghề phổ biến, cần nhiều nhân lực thì có những ngành đào tạo mà nhu cầu về nhân lực của xã hội chỉ ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, mỗi năm các trường đào tạo các ngành này không ngừng cung cấp thêm nguồn nhân lực sau đại học mới. Tình trạng này khiến một lượng lớn lao động đã qua đào tạo phải làm các công việc không liên quan đến ngành học của mình để tránh nguy cơ thất nghiệp. Trong bối cảnh hiện nay, nghề nghiệp ngày càng theo xu hướng đa, xuyên lĩnh vực, tạo điều kiện cho lao động đã qua đào tạo làm được nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau.
Bên cạnh đó các lý do thuộc về năng lực ngành nghề, nguyện vọng làm trái ngành, không thành công ở lĩnh vực chuyên ngành… cũng góp phần đẩy số lượng lao động trái ngành, nghề sau đào tạo lên đến khoảng 60%. Ý nghĩa của tạo việc làm cho lao động thành phố trực thuộc tỉnh Tạo việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Chính sách việc là vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị xã hội cũng như giáo dục con người. Việc hoạch định và thực thi không tốt chính sách việc làm sẽ dẫn đến những hậu quả, những thiệt hại trực tiếp cả về kinh tế, chính trị và xã hội cho đất nước.
Trước hết, tạo việc làm nhằm đảm bảo cho lực lượng lao động tham gia hoạt động kinh tế và các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, tạo khả năng cho mỗi cá nhân nhận được những khoản thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia đình mình. Thông qua tạo việc làm cho lao động thành phố trực thuộc tỉnh, các doanh nghiệp, công ty, người sử dụng lao động được lựa chọn sức lao động cần thiết 9 theo khối lượng và chất lượng đòi hỏi của doanh nghiệp. Nhưng không phải lúc nào cũng sẵn có lực lượng lao động cần thiết trong một khu vực, chính vì vậy nhờ việc giải quyết việc làm sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về ngành nghề, nơi nào đang dư thừa lao động và nơi nào thì khan hiếm lao động cũng như việc người lao động cần phải trang bị những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp gì để có thể kiếm được việc làm. Tạo việc làm cho lao động còn đảm bảo việc phân chia, sắp xếp lại lao động hoạt động kinh tế thường xuyên trong trường hợp cải cách, sắp xếp lại các doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, vẫn đang cổ phần hóa, sắp xếp lại các doanh nghiệp đã làm cho nhiều lao động mất việc. Nhưng bên cạnh đó cũng cho phép thành lập nhiều doanh nghiệp mới đã giải quyết nhiều việc làm mới cho lao động. Thị trường lao động có nhiều việc làm hơn sẽ đóng góp tích cực vào sự phát triển KTXH, tác động tích cực đến tăng tưởng kinh tế và thu nhập dân cư, đồng thời kinh tế tăng trưởng cũng làm tăng đầu tư và qua đó làm tăng việc làm. Ngược lại, nếu còn tình trạng thất nghiệp kéo dài thì sẽ ảnh hưởng đến mức sống cá nhân và gia đình họ, từ đó sẽ ảnh hưởng chung cho xã hội.
Vì vậy, tạo việc làm luôn được xem là mục tiêu KT-XH quan trọng trong khi hoạch định chiến lược phát triển cũng như xây dựng chính sách kinh tế – xã hội. Như vậy, tạo việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân. Tóm lại, tạo việc làm cho lao động thành phố trực thuộc tỉnh có quy hoạch, kế hoạch hợp lý sẽ có tác động tích cực đến kinh tế - xã hội nói chung và bản thân người lao động nói riêng. Nhưng nếu không có sự sắp xếp, giải quyết hợp lý thì giải quyết việc làm cho người lao động sẽ tạo cho bản thân tính ỷ lại, trông chờ vào sự sắp xếp công việc của nhà nước, là thói quen ăn sâu vào tiềm thức của nhiều thế hệ người Việt Nam.