Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam" được nghiên cứu sinh Dương Kim Thế Nguyên thực hiện tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2015, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, phá sản là một hiện tượng khách quan dưới tác động của cạnh tranh. Các tổ chức tín dụng (TCTD) với tư cách là những định chế tài chính trung gian, đảm nhận vai trò chu chuyển vốn huyết mạch của nền kinh tế, cung cấp dịch vụ thanh toán và là công cụ truyền tải chính sách tiền tệ. Do tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao và tính liên kết chặt chẽ trong hệ thống thanh toán liên ngân hàng, sự sụp đổ của một TCTD có khả năng tạo ra hiệu ứng lan truyền dây chuyền (domino), đe dọa trực tiếp đến an ninh tài chính quốc gia và ổn định kinh tế vĩ mô.
Trước đây, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung không thừa nhận cạnh tranh nên không đặt ra vấn đề phá sản. Sau Đổi mới, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và Luật Phá sản năm 2004 đều xác định TCTD là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, nhưng phải đến năm 2010 Chính phủ mới ban hành Nghị định số 05/2010/NĐ-CP hướng dẫn áp dụng. Đến năm 2014, Luật Phá sản mới đã dành riêng Chương VIII gồm 8 điều để quy định về phá sản TCTD. Mặc dù khung pháp lý đã từng bước hình thành, trong thực tiễn điều hành kinh tế, Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015" và quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (tại phiên chất vấn của Quốc hội ngày 21/8/2012) vẫn khẳng định chủ trương không để xảy ra đổ vỡ ngân hàng ngoài tầm kiểm soát và không để ngân hàng nào bị phá sản trong giai đoạn này. Khoảng trống giữa nguyên tắc vận hành của kinh tế thị trường với chính sách điều hành hành chính thực tế, cùng sự thiếu vắng các nghiên cứu pháp lý toàn diện về cơ chế giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của TCTD, là lý do thúc đẩy tác giả thực hiện luận án.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của tính đặc thù trong thủ tục phá sản áp dụng đối với TCTD; hệ thống hóa và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục phá sản TCTD; từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản TCTD ở Việt Nam với tầm nhìn đến năm 2020.
Luận án xác định và giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu chính:
- Các TCTD có những đặc điểm pháp lý gì đặc biệt so với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại thông thường? Phải chăng các điểm đặc biệt trong tổ chức và hoạt động của các TCTD đã làm cho việc giải quyết phá sản TCTD không thể thực hiện theo cách thức của doanh nghiệp thông thường?
- Ở các nước khác, việc giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các TCTD được thực hiện như thế nào? Những điểm tương đồng và khác biệt trong xử lý phá sản TCTD giữa các hệ thống pháp luật (Hoa Kỳ, Anh, Nga) là gì và dựa trên cơ sở lý luận nào?
- Pháp luật về giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các TCTD ở Việt Nam hiện nay có những hạn chế, bất cập gì? Cần có những thay đổi gì để đáp ứng nhu cầu phát triển ổn định, an toàn của hệ thống TCTD dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp nói chung và TCTD nói riêng; các quy định pháp luật về thủ tục phá sản TCTD của Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Liên bang Nga trong nghiên cứu so sánh luật học.
- Phạm vi về nội dung: Luận án tiếp cận phá sản dưới góc độ là một quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán bắt đầu từ khi TCTD có dấu hiệu mất khả năng thanh toán, bao gồm cả các biện pháp can thiệp hành chính tiền phá sản (kiểm soát đặc biệt, tái cơ cấu, phục hồi) và thủ tục tư pháp tại tòa án. Luận án giới hạn phạm vi đối tượng khảo sát trọng tâm vào các ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam; không nghiên cứu chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, không nghiên cứu việc xử lý chi nhánh của ngân hàng Việt Nam ở nước ngoài khi bị phá sản, và không đi sâu vào các quy chế giám sát an toàn vi mô thông thường.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn pháp lý tại Việt Nam từ thời kỳ tự do hóa tài chính cuối thập niên 1980 đến năm 2015; so sánh với ba quốc gia Hoa Kỳ, Anh, Nga; đề xuất giải pháp với tầm nhìn quy hoạch đến năm 2020 gắn với Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu trên thế giới về phá sản ngân hàng theo nhiều góc độ:
- E. Gerald Corrigan (1983) trong bài viết "Are Banks Special?" đã chứng minh tính đặc thù của ngân hàng thương mại dựa trên 3 yếu tố: cấp tài khoản giao dịch, làm nguồn dự phòng thanh khoản và là đầu mối truyền dẫn chính sách tiền tệ.
- George G. Kaufman (1996) trong công trình "Bank failure, systemic risk, and bank regulation" phân tích sự sụp đổ của ngân hàng gây tổn thất lớn hơn doanh nghiệp thông thường do phá vỡ quan hệ tín dụng, làm tê liệt hệ thống thanh toán và tạo hiệu ứng domino.
- Imad A. Moosa (2010) với tác phẩm "The myth of too big to fail" đã phản biện quan điểm cứu trợ các ngân hàng lớn, chỉ ra rằng việc duy trì chính sách "quá lớn không thể đổ vỡ" sẽ tạo ra rủi ro đạo đức (moral hazard), gây gánh nặng nợ công và đề xuất cơ chế chia nhỏ quy mô định chế tài chính để cho phá sản theo trật tự.
- Eva Hüpkes (2003) trong "Insolvency – why a special regime for banks?" lý giải sự cần thiết phải thiết lập một chế độ giải quyết mất khả năng thanh toán riêng biệt cho ngân hàng nhằm dung hòa quyền lợi của chủ nợ, cổ đông và an toàn hệ thống tài chính.
- Matej Marinc và Razvan Vlahu (2011) trong nghiên cứu "The Economic Perspective of Bank Bankruptcy Law" đã phân tích các vụ đổ vỡ thực tế tại Hoa Kỳ (Lehman Brothers) và châu Âu (Tập đoàn Fortis) để khẳng định luật phá sản chung không thể áp dụng trực tiếp cho ngân hàng thương mại.
- Robert R. Bliss và George G. Kaufman nghiên cứu so sánh thủ tục mất khả năng thanh toán giữa doanh nghiệp và ngân hàng tại Hoa Kỳ; Richard M. Hynes và Steven D. Walt (2010) trong "Why Banks Are Not Allowed in Bankruptcy" phân tích lý do ngân hàng Mỹ chịu sự điều chỉnh của Đạo luật Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC Act) thay vì Bộ luật Phá sản chung (Title 11 USC).
- Kern Alexander (2009) nghiên cứu sự cân bằng giữa giám sát an toàn và quyền cổ đông; Peter Brierley (2009) phân tích chế độ giải quyết đặc biệt theo Luật Ngân hàng Anh năm 2009; Sumio Hirose (2009) khảo sát tác động của cải cách luật phá sản đối với hệ thống ngân hàng Nhật Bản.
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các công trình được tác giả rà soát gồm:
- Tô Nguyễn Cẩm Anh (2002) và Phạm Duy Nghĩa (2003, 2004) với các nghiên cứu chuyên khảo về triết lý và tiến trình phát triển của luật phá sản qua các thời kỳ lịch sử.
- Nguyễn Văn Vân (2002) trong bài viết "Định hướng xây dựng luật phá sản các TCTD" đề xuất khung chính sách ban đầu dựa trên kinh nghiệm của Pháp, Nga, Hoa Kỳ.
- Viên Thế Giang (2005, 2010) nghiên cứu việc áp dụng Luật Phá sản 2004 đối với TCTD và các dấu hiệu pháp lý xác định tình trạng phá sản ngân hàng.
- Cao Đăng Vinh (2009) trong luận văn thạc sĩ "Những quy định đặc thù trong việc giải quyết phá sản TCTD" phân tích một số khía cạnh lý luận và thực tiễn pháp lý trước khi có Nghị định 05/2010/NĐ-CP.
- Lê Thị Thu Thủy (2014) nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về giải quyết phá sản ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy chưa có công trình chuyên khảo ở cấp độ tiến sĩ nào tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về thủ tục phá sản TCTD. Các nghiên cứu trong nước trước đó đa phần mang tính đơn lẻ, chưa giải quyết triệt để mô hình kết hợp giữa can thiệp hành chính (kiểm soát đặc biệt) và thủ tục tư pháp (tòa án), đồng thời chưa cập nhật các quy định mới của Luật Phá sản 2014 trong mối tương quan với Luật Các TCTD 2010. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh, khảo cứu kinh nghiệm lập pháp quốc tế và đưa ra các đề xuất lập pháp cụ thể.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Các học thuyết khoa học chuyên ngành được sử dụng gồm:
- Học thuyết chính sách phá sản (Bankruptcy-policy Theory): Phân tích mục tiêu kép của luật phá sản là bảo vệ quyền lợi chủ nợ gắn với việc tái cấu trúc, phục hồi doanh nghiệp còn khả năng tồn tại.
- Học thuyết chia sẻ rủi ro (Risk-Sharing Theory): Xác định cơ chế phân bổ tổn thất giữa cổ đông, người gửi tiền, các chủ nợ khác và Nhà nước khi TCTD mất khả năng thanh toán.
- Học thuyết người cho vay cuối cùng (Lender of last resort): Cơ sở cho các can thiệp thanh khoản khẩn cấp của Ngân hàng Trung ương nhằm ngăn chặn khủng hoảng rút tiền hàng loạt.
- Học thuyết "Quá lớn không thể đổ vỡ" (Too big to fail): Phân tích các giới hạn và hệ quả tiêu cực của việc Nhà nước bảo đảm cứu trợ tuyệt đối đối với các định chế tài chính quy mô lớn.
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Information Asymmetry) của George Akerlof (1970), được phát triển bởi Michael Spence và Joseph Stiglitz: Giải thích nguồn gốc hình thành lựa chọn bất lợi (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard) trong hoạt động ngân hàng khi có sự can thiệp của chính sách bảo hiểm và cứu trợ tài chính.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu:
- Phương pháp hệ thống hóa các luận điểm khoa học: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 để hệ thống các khái niệm lý luận về phá sản và phá sản TCTD.
- Phương pháp phân tích và giải thích pháp luật: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy phạm pháp luật, làm rõ nội hàm thuật ngữ phá sản, mất khả năng thanh toán và các điều kiện can thiệp pháp lý.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đánh giá thực trạng pháp lý, tổng hợp quan điểm của các học giả để xây dựng luận cứ cho các đề xuất sửa đổi luật.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu cơ chế xử lý phá sản TCTD giữa pháp luật Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Liên bang Nga với Việt Nam.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát nhận thức pháp luật về phá sản TCTD đối với 2 nhóm đối tượng: (1) nhân viên và (2) cán bộ quản lý tại các ngân hàng thương mại.
- Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia: Phỏng vấn 2 nhóm chuyên gia gồm các nhà nghiên cứu tài chính - ngân hàng và các nhà nghiên cứu pháp luật ngân hàng xoay quanh 5 nội dung: tính đặc thù của TCTD; tiêu chí xác định mất khả năng thanh toán; tính cần thiết của thủ tục can thiệp tiền phá sản; thời điểm chuyển giao vụ việc sang tòa án; và cơ chế bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản pháp luật Việt Nam: Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, Luật Phá sản 2004, Luật Phá sản 2014, Luật Các TCTD 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012, Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972, Nghị định 05/2010/NĐ-CP, Nghị định 189/CP, các văn kiện của Đảng và Đề án tái cơ cấu của Chính phủ.
- Pháp luật quốc tế: Title 11 USC, Đạo luật FDIC (Hoa Kỳ); Banking Act 2009 (Vương quốc Anh); Luật Mất khả năng thanh toán 2002 (Liên bang Nga); Luật Phá sản Singapore (1995, 2005); Luật Phá sản Nhật Bản (1922).
- Dữ liệu sơ cấp: Kết quả khảo sát phiếu điều tra xã hội học và biên bản phỏng vấn sâu chuyên gia do tác giả thực hiện.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Chương 1 tập trung phân tích bối cảnh phát triển của thị trường tài chính - ngân hàng Việt Nam, tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận phá sản TCTD dưới góc độ thủ tục tư pháp thuần túy mà chưa đặt trong một quy trình tổng thể giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán.
Chương này xác lập 4 giả thuyết nghiên cứu khoa học:
- Quy luật cạnh tranh và phá sản của kinh tế thị trường tác động đến TCTD tương tự như doanh nghiệp thông thường.
- Tính chất đặc thù của TCTD đòi hỏi sự can thiệp thận trọng và chuyên nghiệp của Nhà nước để hạn chế tác động lan truyền tiêu cực.
- Kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia phát triển và chuyển đổi là nguồn tham khảo có giá trị cho Việt Nam.
- Các chính sách kiểm soát và ngăn ngừa mất khả năng thanh toán hiện hành của Việt Nam cần được đánh giá khoa học để hoàn thiện.
Chương 1 cũng định hình khung phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu văn bản pháp luật, so sánh luật học và thu thập dữ liệu thực tế thông qua điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu chuyên gia.
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ KINH NGHIỆM LẬP PHÁP VỀ PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC
Chương 2 luận giải tính chất đặc thù của TCTD với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ có điều kiện. Tác giả phân tích cấu trúc hoạt động của ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã, TCTD phi ngân hàng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính), tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Ngân hàng thương mại là chủ thể chịu rủi ro cao nhất do sử dụng vốn huy động ngắn hạn từ dân cư để cho vay trung - dài hạn, do đó dễ bị tác động bởi hiện tượng rút tiền hàng loạt (bank run).
Tác giả phân tích khái niệm phá sản và phân biệt các tiêu chí xác định tình trạng mất khả năng thanh toán:
- Tiêu chí định lượng: Căn cứ vào giá trị khoản nợ tối thiểu không trả được (như quy định 100.000 rúp đối với pháp nhân tại Nga, hoặc 10.000 đô la Singapore tại Singapore). Tiêu chí này đơn giản nhưng không phản ánh bản chất sức khỏe tài chính.
- Tiêu chí kế toán (balance-sheet): Tổng giá trị tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có. Nhược điểm của tiêu chí này là không xử lý được trường hợp tài sản còn nhiều nhưng thiếu tính thanh khoản.
- Tiêu chí dòng tiền (cash-flow): TCTD không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn theo yêu cầu của chủ nợ. Tiêu chí này cho phép can thiệp sớm để cứu chữa doanh nghiệp.
Khảo cứu kinh nghiệm lập pháp quốc tế cho thấy ba mô hình giải quyết phá sản TCTD điển hình:
- Hoa Kỳ (Mô hình hành chính): Ngân hàng bị loại trừ khỏi Bộ luật Phá sản chung (Title 11 USC) và chịu sự điều chỉnh của Đạo luật FDIC. Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) đóng vai trò là người tiếp nhận (receiver), thực hiện tái cấu trúc, mua bán - sáp nhập (P&A) hoặc thanh lý mà không cần tòa án can thiệp sâu.
- Vương quốc Anh (Mô hình tư pháp kết hợp cơ chế giải quyết đặc biệt): Sau cuộc khủng hoảng 2007-2008, Anh ban hành Luật Ngân hàng năm 2009 (Banking Act 2009) thiết lập Chế độ giải quyết đặc biệt (Special Resolution Regime - SRR), kết hợp thẩm quyền hành chính của Ngân hàng Trung ương Anh (Bank of England), Cơ quan Quản lý Tài chính (FSA) và Bộ Tài chính với thủ tục tư pháp tại tòa án.
- Liên bang Nga (Mô hình kinh tế chuyển đổi): Quy định thủ tục phá sản TCTD trong Luật Mất khả năng thanh toán năm 2002, kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp phòng ngừa hành chính do Ngân hàng Trung ương Nga áp dụng với thủ tục phá sản tại Tòa án Trọng tài.
| Tiêu chí so sánh |
Hoa Kỳ |
Vương quốc Anh |
Liên bang Nga |
Việt Nam |
| Văn bản pháp luật chủ yếu |
FDIC Act 1950/1959 |
Banking Act 2009, Insolvency Act 1986 |
Luật Mất khả năng thanh toán 2002 |
Luật Phá sản 2014, Luật Các TCTD 2010 |
| Mô hình giải quyết |
Hành chính chuyên biệt |
Hỗn hợp (SRR và Tòa án) |
Tư pháp có sự can thiệp của NHTW |
Hỗn hợp (Kiểm soát đặc biệt và Tòa án) |
| Cơ quan chủ trì giai đoạn đầu |
FDIC |
Bank of England / FSA |
Ngân hàng Trung ương Nga |
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam |
| Vai trò của Tòa án |
Rất hạn chế |
Giám sát và ban hành lệnh tư pháp |
Thụ lý, mở thủ tục và tuyên bố phá sản |
Thụ lý và tuyên bố phá sản (sau kiểm soát đặc biệt) |
| Mục tiêu ưu tiên |
Ổn định tài chính, bảo vệ người gửi tiền |
Bảo vệ hệ thống thanh toán, giảm chi phí công |
Cân bằng quyền lợi chủ nợ và thanh khoản |
An toàn hệ thống, không để đổ vỡ ngoài kiểm soát |
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Chương 3 phân tích chi tiết hai giai đoạn giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của TCTD theo pháp luật Việt Nam:
-
Thủ tục kiểm soát đặc biệt (giai đoạn tiền phá sản mang tính hành chính):
Theo quy định của Luật Các TCTD 2010, khi TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc mất khả năng thanh toán, NHNN ra quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Ban kiểm soát đặc biệt có quyền hạn sâu rộng nhằm áp dụng các biện pháp phục hồi như: phong tỏa các giao dịch có rủi ro cao, yêu cầu cơ cấu lại tổ chức và tài sản, tìm kiếm đối tác sáp nhập/hợp nhất, cấp các khoản cho vay đặc biệt từ NHNN hoặc chỉ định TCTD khác hỗ trợ. Nếu các biện pháp phục hồi không đạt kết quả, NHNN có thể áp dụng biện pháp can thiệp bắt buộc (như chỉ định mua lại cổ phần bắt buộc).
-
Thủ tục phá sản TCTD tại Tòa án (theo Chương VIII Luật Phá sản 2014):
- Điều kiện thụ lý đơn: Tòa án chỉ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD khi đã có văn bản của NHNN về việc chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản không áp dụng kiểm soát đặc biệt mà TCTD vẫn lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán (Điều 98).
- Chủ thể nộp đơn: Gồm chủ nợ, người đại diện theo pháp luật của TCTD; đồng thời quy định trách nhiệm của NHNN trong việc thông báo bằng văn bản để các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn.
- Áp dụng thủ tục rút gọn: Thủ tục phá sản TCTD không tổ chức Hội nghị chủ nợ và không tiến hành giai đoạn phục hồi hoạt động kinh doanh tại Tòa án (Điều 101), vì giai đoạn phục hồi đã được thực hiện trong quá trình kiểm soát đặc biệt tại NHNN.
- Quản lý và phân chia tài sản: Quy định thứ tự phân chia tài sản phá sản tại TCTD (Điều 104), trong đó ưu tiên chi phí phá sản, nợ lương, các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản cho vay đặc biệt.
Chương này cũng chỉ rõ các bất cập: Sự phụ thuộc hoàn toàn của Tòa án vào văn bản của NHNN khiến quyền nộp đơn của chủ nợ bị hạn chế; thiếu tiêu chí định lượng minh bạch để xác định thời điểm kết thúc kiểm soát đặc biệt; và cơ chế phối hợp giữa Quản tài viên với Ban kiểm soát đặc biệt còn nhiều vướng mắc.
CHƯƠNG 4: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật phá sản TCTD dựa trên ba nhóm yêu cầu:
- Thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển thị trường tiền tệ và tái cơ cấu kinh tế.
- Gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015", định hướng đến năm 2020.
- Đảm bảo tính đồng bộ giữa Luật Phá sản 2014, Luật Các TCTD 2010, Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 và các văn bản liên quan.
Các kiến nghị cụ thể được tác giả phân chia theo 3 nhóm:
- Hoàn thiện mô hình và cấu trúc pháp luật: Duy trì mô hình kết hợp hành chính - tư pháp nhưng cần chuẩn hóa ranh giới chuyển tiếp; ban hành nghị định hướng dẫn chi tiết Chương VIII Luật Phá sản 2014.
- Hoàn thiện thủ tục can thiệp hành chính sớm: Bổ sung các tiêu chí định lượng về an toàn vốn và khả năng thanh khoản để kích hoạt kiểm soát đặc biệt; quy định rõ giới hạn thời gian kiểm soát đặc biệt nhằm tránh kéo dài tình trạng ngân hàng yếu kém; nâng cao thẩm quyền và năng lực tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTG) trong việc tham gia xử lý hỗ trợ và chi trả tiền gửi khẩn cấp.
- Hoàn thiện thủ tục xử lý tại Tòa án: Quy định rõ thời hạn NHNN phải ban hành văn bản xác nhận chấm dứt kiểm soát đặc biệt để Tòa án thụ lý đơn; quy định tư cách đại diện của tổ chức BHTG cho khối người gửi tiền nhỏ lẻ tại Tòa án; hoàn thiện quy chế hành nghề của Quản tài viên chuyên trách trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Chương này cũng xác định 4 điều kiện bảo đảm thi hành: Đổi mới nhận thức cộng đồng (chấp nhận phá sản TCTD như một cơ chế thanh lọc tự nhiên); nâng cao năng lực chuyên môn của Thẩm phán giải quyết án phá sản ngân hàng; phát triển đội ngũ Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý tài sản; và tăng cường tính chủ động, minh bạch của NHNN và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã xây dựng và bổ sung vào hệ thống lý luận khoa học luật phá sản khái niệm thủ tục phá sản TCTD dưới góc độ là một quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán tổng thể, bao gồm cả biện pháp can thiệp hành chính tiền phá sản và thủ tục tư pháp tại Tòa án.
- Luận án chứng minh một cách khoa học tính chất đặc thù của TCTD, từ đó xác lập cơ sở lý luận khẳng định sự cần thiết phải xây dựng các quy định đặc thù về phá sản TCTD nhằm ngăn ngừa rủi ro hệ thống và rủi ro đạo đức.
- Thông qua việc phân tích luật học so sánh đối với Hoa Kỳ, Anh và Nga, luận án đúc kết các nguyên tắc phổ quát và mô hình giải quyết phá sản TCTD trên thế giới, bổ sung nguồn tư liệu lý luận cho khoa học pháp lý Việt Nam.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Luận án làm rõ cơ chế can thiệp hành chính thông qua kiểm soát đặc biệt và các biện pháp hỗ trợ tài chính đặc biệt (cho vay đặc biệt, mua lại bắt buộc), từ đó giải thích một cách khoa học lý do tại sao tại Việt Nam chưa từng có vụ việc phá sản TCTD nào được giải quyết tại Tòa án.
- Luận án hệ thống hóa toàn diện các quy định của Luật Phá sản 2014 và Luật Các TCTD 2010, chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý và mâu thuẫn giữa quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ với quyền quyết định hành chính của NHNN.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi Luật Các TCTD, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Chương VIII Luật Phá sản 2014, mở rộng vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và hoàn thiện quy chế Quản tài viên chuyên ngành ngân hàng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu vào loại hình ngân hàng thương mại, chưa bao quát chi tiết toàn bộ các đặc thù xử lý phá sản đối với các TCTD phi ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô.
- Luận án không đi sâu nghiên cứu việc giải quyết phá sản đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cũng như xử lý tài sản của TCTD có yếu tố xuyên biên giới.
- Các kiến nghị lập pháp và thực thi được xây dựng gắn với khung chính sách và số liệu thực tiễn đến năm 2015, định hướng tầm nhìn đến năm 2020 theo Đề án tái cơ cấu của Chính phủ.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu cơ chế pháp lý xử lý khủng hoảng và phá sản đối với các tập đoàn tài chính đa năng, tập đoàn ngân hàng - bảo hiểm - chứng khoán.
- Nghiên cứu cơ chế hợp tác tư pháp quốc tế trong xử lý phá sản ngân hàng xuyên biên giới phù hợp với các hiệp định thương mại tự do và cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam.
- Đánh giá tác động thực thi của các chuẩn mực an toàn vốn quốc tế (như Basel) trong việc nhận diện sớm tình trạng mất khả năng thanh toán của TCTD.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các học phần Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng, Luật Phá sản tại các cơ sở đào tạo luật học và kinh tế. Cung cấp khung lý thuyết liên ngành Luật - Kinh tế và tư liệu so sánh quốc tế về phá sản ngân hàng.
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Các luận cứ khoa học và kiến nghị tại Chương 4 là nguồn dữ liệu tham khảo hữu ích cho Quốc hội, Ban chỉ đạo Đề án tái cơ cấu TCTD, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp trong việc xây dựng nghị định hướng dẫn Luật Phá sản 2014 và sửa đổi Luật Các TCTD.
- Đối với Tòa án, Thẩm phán và Quản tài viên: Nội dung Chương 3 và Chương 4 cung cấp phân tích thực tiễn về thụ lý đơn, áp dụng thủ tục rút gọn, quản lý tài sản phá sản và xác định thứ tự phân chia tài sản của TCTD.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa khái niệm phá sản TCTD như thế nào?
Luận án tiếp cận phá sản TCTD theo nghĩa rộng: là một thủ tục pháp lý được quy định bởi pháp luật phá sản và pháp luật có liên quan nhằm giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của TCTD. Thủ tục này bắt đầu từ khi TCTD có dấu hiệu mất khả năng thanh toán, trải qua các giai đoạn can thiệp hành chính hoặc tư pháp, và có thể dẫn đến các hệ quả khác nhau là phục hồi, tái cấu trúc hoặc thanh lý và chấm dứt hoạt động.
2. Tại sao việc giải quyết phá sản TCTD không thể áp dụng hoàn toàn như doanh nghiệp thông thường?
Do TCTD là định chế tài chính trung gian đặc biệt, kinh doanh dựa trên nguồn vốn huy động ngắn hạn từ công chúng và mức độ đòn bẩy tài chính cao. Sự sụp đổ của một TCTD có nguy cơ gây rút tiền hàng loạt, làm tê liệt hệ thống thanh toán liên ngân hàng và tạo ra hiệu ứng lan truyền đe dọa toàn bộ hệ thống tài chính và nền kinh tế vĩ mô.
3. Vì sao đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2015), Việt Nam chưa từng có ngân hàng nào bị Tòa án tuyên bố phá sản?
Do các cơ quan quản lý Nhà nước (đặc biệt là NHNN) áp dụng chính sách "không để xảy ra đổ vỡ ngân hàng ngoài tầm kiểm soát". Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, Nhà nước ưu tiên sử dụng thủ tục hành chính thông qua biện pháp kiểm soát đặc biệt, cho vay đặc biệt, chỉ định tái cơ cấu, sáp nhập hoặc mua lại bắt buộc để xử lý dứt điểm tình trạng mất thanh khoản trước khi vụ việc được chuyển sang Tòa án.
4. Tòa án nhân dân chỉ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD khi đáp ứng điều kiện tiên quyết nào?
Theo quy định tại Điều 98 Luật Phá sản 2014, Tòa án chỉ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD sau khi Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán (kiểm soát đặc biệt) mà TCTD đó vẫn lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
5. Ba mô hình giải quyết phá sản TCTD trên thế giới được luận án khảo sát là gì?
Luận án khảo sát ba mô hình:
- Mô hình hành chính tại Hoa Kỳ: Giao toàn quyền giải quyết phá sản ngân hàng cho Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) theo Đạo luật FDIC.
- Mô hình tư pháp kết hợp cơ chế giải quyết đặc biệt tại Vương quốc Anh: Thiết lập Chế độ giải quyết đặc biệt (SRR) theo Luật Ngân hàng 2009 dưới sự điều phối của Ngân hàng Trung ương Anh, Cơ quan Quản lý Tài chính và Tòa án.
- Mô hình kinh tế chuyển đổi tại Liên bang Nga: Kết hợp giữa các biện pháp phòng ngừa của Ngân hàng Trung ương Nga với thủ tục phá sản tại Tòa án Trọng tài theo Luật Mất khả năng thanh toán 2002.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Dương Kim Thế Nguyên đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về xử lý mất khả năng thanh toán của các định chế tài chính trung gian. Công trình làm rõ bản chất của thủ tục phá sản TCTD là sự kết hợp giữa các biện pháp can thiệp hành chính tiền phá sản (kiểm soát đặc biệt) và thủ tục tư pháp tại Tòa án, đồng thời phân tích sâu sắc các quy định của Luật Phá sản 2014 và Luật Các TCTD 2010. Dựa trên việc phân tích bài học lập pháp của Hoa Kỳ, Anh và Nga cùng kết quả điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu chuyên gia, luận án đã đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp và điều kiện bảo đảm thi hành nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phá sản TCTD tại Việt Nam đến năm 2020.