chương 1, tác giả khái quát về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ở hai cấp độ: các công trình nghiên cứu về pháp luật phá sản nói chung và các công trình nghiên cứu về thủ tục thanh lý và chủ thé quan lý, thanh ly tài sản trog quá trình giải quyết phá sản đề từ đó đánh giá được những nội dung có thể được kế thừa, tiếp thu và chi ra những khoảng trống pháp lý cần được bổ sung, làm rõ hơn trong luận án. Phần cuối chương này là những câu hỏi nghiên cứu được tác giả đặt ra nhằm định hướng cho việc thực hiện và hoàn thiện nội dung nghiên cứu. Lý luận chung về Quản tài viên trong thủ tục phá sản Nội dung chương này đề cập đến một số van dé lý luận chung nhất về quản tai viên như: khái niệm quản tài viên, phân định rõ bản chất công - tư và vai trò của chủ thé này trong tô tung phá sản; nêu ra những điều kiện kinh tế - xã hội tác động đến việc lựa chọn mô hình chủ thể quản lý thanh lý tài sản trong một hệ thống pháp luật phá sản cụ thể. Từ đó, tác giả khái quát về các mô hình chủ thể quản lý, thanh lý tài sản đã được lựa chọn trong pháp luật phá sản Việt Nam, dồng thời chỉ ra những kinh nghiệm pháp lý trong việc xây dựng và hoàn thiện chế định quản tài viên ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Quản tài viên trong thủ tục phá sản Đây là chương phân tích pháp luật thực định về địa vị pháp lý của quản tải viên, bao gồm các nội dung: tiêu chuẩn — điều kiện dé trở thành quản tài viên; cách thức dé một quản tải viên có thể tham gia vào một vụ việc phá sản; những nhiệm vu, quyền hạn cụ thé của quan tài viên trong quá trình tố tụng phá sản, bao gồm cả việc thực hiện hoạt động quản lý thanh lý tài sản hay tham gia vào thủ tục phục hồi hoạt dong kinh doanh của doanh nghiệp. Ở chương này, ngoài việc phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam, tác giả còn đề cập đến pháp luật phá sản một số quốc gia. và các khuyến nghị của một số định chế như OECD, UNCITRAL về chủ thể quản lý, thanh lý tài sản nhằm đánh giá, luận giải sự tương đồng và khác biệt. Mối quan hệ giữa Quản tài viên với các chủ thể khác trong thủ tục phá sản.
Thông qua một số khảo sát thực tế, trong chương 4 tác giả đã đánh giá hiệu quả hoạt động của quan tài viên từ khi Luật Pha sản 2014 có hiệu lực và được thi hành trên thực tiễn. Tác giả tập trung phân tích những yếu té tác động đến hiệu qua hoạt động thực tế của quản tài viên, đó là những mối quan hệ mang tính giám sát — hỗ trợ (với Toà án, với các chủ nợ, con nợ và với cơ quan thi hành án) và đặc biệt là cách thức xác định chi phí quản tài viên hiện nay ở Việt Nam dé từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị liên quan đến các vấn đề này nhằm tăng cường vai trò và hiệu quả hoạt động thực tế của quản tài viên. TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu đề tài 1.
Các công trình nghiên cứu về pháp luật phá sản nói chung Trên thế giới, vấn đề phá sản và pháp luật phá sản có lịch sử lâu đời. Những nghiên cứu về pháp luật phá sản và vấn đề thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản trong pháp luật phá sản không còn là mới mẻ. Công trình đâu tiên phải kề đến là quyển sách Insolvency Law in East Asia được Roman Tomasic của Đại học Victoria — Melburne biên tập từ nghiên cứu của nhiều tác giả vào năm 2006. Với mục tiêu chính là nghiên cứu về “sự đa dạng và hội tụ” trong Luật Phá sản ở Đông Á, công trình cung cấp một cái nhìn tổng quan về luật phá sản và các quy tắc và thủ tục liên quan ở các nước Đông Á.
Với nhận định răng cải cách luật phá sản đã trở thành một chủ đề cấp bách của một số chính sách công ở nhiều quốc gia trong nhiều thập kỷ qua và điều này đặc biệt xảy ra ở nhiều nơi ở Châu Á trong thập kỷ qua. Nhiều quốc gia đã và đang tìm cách sửa đổi các luật hiện hành của họ nhằm đưa chúng trở nên chặt chẽ hơn, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về thông lệ tốt nhất. Các tiêu chuẩn này đã được phát triển bởi các cơ quan đa phương như Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB, Ngân hàng Thể giới - WB, Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD và Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên hiệp quốc - UNCITRAL cũng như của các cộng đồng hành nghề như INSOL International. Các nhóm đặc biệt như Diễn đàn Cải cách tinh trạng mat khả năng thanh toán ở Châu A (FAIR) cũng đã đóng góp rất nhiều vào việc phát triển các ý tưởng về tình trạng mat khả năng thanh toán ở Châu Á; các thủ tục của họ đã được phổ biến rộng rãi thông qua OECD.
Qua những nội dung nghiên cứu được trình bày, các tác giả của công trình nghiên cứu này cho rằng việc: “. thiết lập một hệ thống quan lý rủi ro mat kha năng thanh toán (IRM) hiệu quả phụ thuộc vao sự tác động lẫn nhau thành công của ba quá trình: thiết kế, xây dựng luật và thực hiện. Nếu không chú ý nhiều đến các quy trình mà luật được tạo ra và những trở ngại đối với việc thực hiện, thì dù thiết kế có phức tạp đến đâu, nó cũng sẽ không thành công. Và do đó, một phần của hệ thống pháp luật về phá sản có thể được thực hiện thành công mà không cần hiểu biết đầy đủ về 18 cách nó dựa vào và đóng góp vào hoạt động của các phần tử khác trong hệ thống.
Điều này gây khó khăn cho việc tìm kiếm đơn giản dé ghép một chế độ pháp lý giải quyết tình trang mat khả năng thanh toán một cách phi lý từ một quốc gia phát triển ở một nơi trên thế giới sang một quốc gia đang phát triển ở châu Á”. Nói như vậy, sẽ rất hữu ích khi xem xét một số nỗ lực cải cách luật phá sản trên diện rộng hiện đang diễn ra. Công trình Corporate Insolvency Law — Perspectives and Principals cua tác gia Vanessa Finch, Giáo su ngành Luật tai London School of Economics and Political Science (do Cambridge University Press ấn hành năm 2009). Nếu ấn bản đầu tiên của công trình chỉ đề xuất một ý tưởng về việc sửa đổi cơ bản về luật mat khả năng thanh toán - một ý tưởng nhằm phục vụ cho các mục đích xã hội cũng như doanh nghiệp thì ấn bản thứ hai đã đưa vào một loạt các thay đổi mà sau đó đã giúp định hình lại luật và thực tiễn về vỡ nợ và phá sản, chăng hạn như việc củng cô văn hóa cứu hộ ở Vương quốc Anh, sự xuất hiện và tham gia của chính quyền "định sẵn" và sự thay thế rộng rãi của cơ quan tiếp nhận hành chính bằng quản trị viên.
Đồng thời cũng xem xét tác động của những thay đổi mạnh mẽ trong hoạt động tín dụng (và kinh doanh), sự di chuyên ngày càng nhiều "thủ tục phá sản" đối với giai đoạn vỡ nợ tiền chính thức của công ty và việc tìm hiểu, điều tra về tình trạng mất khả năng thanh toán, của một đội ngũ chuyên gia. Nhìn về tương lai, Vanessa Finch cho rằng cần phải thay đổi cách tiếp cận nếu luật phá sản được phát triển với tính thống nhất và có mục đích và tác giả đã đưa ra một khuôn khổ cho cách tiếp cận như vậy. Điểm đáng lưu ý ở công trình này là tác giả đã nhận định rang các quy trình phá sản doanh nghiệp không phải là cơ quan hành chính hay quy tắc luật lệ, chúng là các thủ tục phức tạp trong đó các quy tắc, chính sách và thông lệ pháp lý và hành chính, chính thức và không chính thức được thực hiện bởi các tác nhân khác nhau. Những tác nhân đó, đến lượt nó, có nền tang văn hóa, thể chế, kỷ luật và chuyên môn ảnh hưởng đến công việc của họ.
Họ cũng hoạt động dưới ảnh hưởng của nhiều loại chính sách kinh tế, nghề nghiệp và các tiêu chuẩn và phải chịu nhiều ràng buộc khác nhau, từ nghĩa vụ pháp ly và nghĩa vụ nghề nghiệp đối với khách hang va kỳ vọng 19 của chính công ty. Sự thành công của bat kỳ hệ thống phá san nào phụ thuộc rat lớn vào những người quản lý hệ thống đó, và các học giả pháp lý xã hội đã nhắn mạnh pháp luật phá sản không được áp dụng theo cơ chế thị trường mà được điều động hoặc thao túng bởi các cơ cau hành chính được thiết kế và áp đặt bởi những người chỉ phối. Bài viếtA Perspective from a UK Insolvency Practitioner của Neil Cooper — đối tác phụ trách Cục phụ hồi Doanh nghiệp và Phá sản doanh nghiệp quốc gia tai Robson Rhodes. Trong bai viết, ông cho biết, ở Vương quốc Anh, điều quan trọng nhất là hoạt động giải cứu doanh nghiệp.
Tác giả sử dụng cách ví von: những con vịt đã chết (dead ducks) cần phải được chôn càng nhanh càng tốt, còn những con vit qué (lame ducks) — “không quá lớn dé không hỏng” (not too big to fail) — có kha năng phục hồi, cần phải được phục hồi một cách bền vững chứ không chỉ đơn giản là sống sót. Điều đó tốt cho người lao động, cho các ngân hàng, cho nền kinh tế và cho toàn xã hội. Và dé thực hiện mục tiêu đó, với tư cách một chuyên gia, tác giả đề xuất 12 yêu cầu liên quan đến cải cách pháp lý nhăm xây dựng một thủ tục hợp lý, nhanh gọn và đơn giản cho quá trình giải quyết phá sản. Có thé ké đến như: xây dựng các hệ thống phục hồi chức năng, bảo vệ tài sản của con nợ trên toàn thế giới, đơn giản hoá các thủ tục tố tụng, đơn giản hoá thủ tục thanh lý, khả năng kiểm tra, giám sát các chủ nợ và những người nằm ngoài hệ thống tài phán.
Bài báo A Comparison of US, UK, and German Insolvency Codes của Julian R.Nyborg, and Walter N.Torous đăng trên Financial Management (Vol 25, No. Bài báo khái quát và đánh giá về ba đạo luật phá san của Anh, Đức va Hoa ky và so sánh hiệu quả của chúng dựa trên một số tiêu chuẩn.