Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo toàn, thanh lý tài sản và pháp luật về bảo toàn, thanh lý tài sản của doanh nghiệp trong thủ tục phá sản Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo toàn và thanh lý tài sản doanh nghiệp trong thủ tục phá sản Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo toàn và thanh lý tài sản doanh nghiệp trong thủ tục phá sản luan an 8 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Công trình nghiên cứu về vấn đề bảo toàn tài sản doanh nghiệp trong thủ tục phá sản 1. Đối với vấn đề xác định tài sản doanh nghiệp trong thủ tục phá sản Có thể thấy, cho đến nay, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề xác định tài sản DN trong thủ tục phá sản.
Có thể chỉ ra một số kết quả nghiên cứu điển hình sau: + Luận án của tác giả Vũ Thị Hồng Vân5 phân tích khái niệm “tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản”; khái niệm, nguyên tắc và cách thức xác định khối “tài sản phá sản”. Luận án đặt ra vấn đề về cách xác định đối với những tài sản đặc biệt như quyền sở hữu trí tuệ, tên thương hiệu, quyền về tài sản hình thành trong tương lai, tài sản ở nước ngoài. Luận án cũng đề xuất việc xác định tài sản phá sản phải tính đến những tài sản loại trừ. Liên quan đến phạm vi khối tài sản phá sản, luận án phân tích khối tài sản có và tài sản nợ của DN đồng thời nhấn mạnh việc trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ chủ yếu giải quyết những vấn đề pháp lý có liên quan đến khái niệm tài sản phá sản theo hướng – tài sản phá sản gồm toàn bộ những tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản có từ thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến thời điểm Toà án ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản hoặc QĐTBPS, bao gồm tài sản có thực tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và những tài sản phát sinh trong quá trình giải quyết vụ phá sản, chủ yếu là những tài sản phát sinh trong giai đoạn thanh lý tài sản.
+ Bài viết của tác giả Vũ Thị Hồng Vân6 phân chia tài sản phá sản của DN thành tài sản có và tài sản nợ, từ đó phân tích một số hạn chế trong LPS 2004 liên quan đến việc xác định tài sản có và tài sản nợ của DN. Theo tác giả, việc xác định khối tài sản của DN dựa vào phương pháp liệt kê dẫn đến hậu quả là khó bao hàm 5 Vũ Thị Hồng Vân (2008), “Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. 6 Vũ Thị Hồng Vân (2007) , “Bàn về nguyên tắc và cách thức xác định tài sản phá sản theo pháp luật phá sản Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát Số 3/2007. luan an 9 được tính toàn vẹn của khối tài sản.
Về xác định tài sản nợ, theo tác giả LPS 2004 có sự thống nhất về nguyên tắc so với LPS của các nước trên thế giới trong việc xác định quyền đòi nợ của chủ nợ đối với phạm vi tài sản thuộc khối tài sản phá sản nhưng vẫn còn một số hạn chế như cần có sự giải thích rõ hơn các khoản nợ phát sinh trong khoảng thời gian từ khi Tòa án thụ lý đơn đến khi Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản; cần quy định rõ hơn về các khoản nợ của DNTN xuất phát từ đặc thù của loại hình DN này. + Bài viết của tác giả Trương Hồng Hải 7 nêu lên các khuynh hướng xác định khối tài sản phá sản của các nước trên thế giới như căn cứ vào thời điểm tiến hành thủ tục giải quyết phá sản, căn cứ vào phạm vi không gian mà tài sản của DN đang hiện hữu, căn cứ vào loại hình tài sản hay nguồn tài sản… Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá cách xác định khối tài sản của DN mắc nợ trong LPSDN 1993 nhìn chung có sự tương đồng khá cơ bản về phạm vi khối tài sản, căn cứ chứng minh tình hình tài sản. Tuy nhiên cách xác định khối tài sản phá sản theo LPSDN 1993 cũng có một số điểm khác biệt như: việc xác định khối tài sản phá sản theo phương pháp liệt kê khiến khó có thể bao hàm được tính toàn vẹn của khối tài sản, không có những quy định rõ ràng và thống nhất về những loại tài sản thuộc diện loại trừ, không có sự phân biệt rõ giữa khái niệm “tài sản của DN” và “tài sản còn lại của DN”. Tác giả đặt ra một số vấn đề cần giải quyết liên quan đến việc xác định tài sản của HTX, việc xác định tài sản của công ty BOT, tài sản của DN nhà nước, tài sản của công ty TNHH, DNTN, việc định giá quyền sử dụng đất.
Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý xác định khối tài sản phá sản như: cần quy định rõ về thời điểm xác định khối tài sản; cần quy định rõ những tài sản thuộc diện loại trừ dựa vào các tiêu chí như tính chất sở hữu của tài sản, công dụng và giá trị của tài sản, phạm vi không gian lãnh thổ của tài sản… 7 Trương Hồng Hải (2004), “Đặc điểm của quy chế xác định tài sản DN phá sản trong LPS DN của Việt Nam và những đề xuất sửa đổi, Tạp chí Luật học, Số 1/2004 luan an 10 + Bài viết của Trần Duy Tuấn8; Hà Thị Khánh Huyền9, Đào Hải Lâm10 là các công trình khoa học tính đến thời điểm này phân tích các quy định về xác định tài sản của DN mất khả năng thanh toán dựa trên LPS 2014. Theo Hà Thị Khánh Huyền, quy định trong LPS 2014 về xác định tài sản phá sản của DN “đầy đủ và hợp lý hơn” so với quy định trong LPS 2004. Cụ thể, tài sản phá sản theo LPS 2014 chỉ bị giới hạn bởi thời gian mà không bị giới hạn bởi không gian, loại, nguồn tài sản và các danh mục loại trừ cũng làm cho nhiệm vụ quản lý, phân chia tài sản phá sản của DN phá sản bị thiếu tính chính xác, không công bằng cho các chủ thể tham gia xử lý tài sản của DN mất khả năng thanh toán. Đào Hải Lâm cũng cho rằng, cần bổ sung quy định về các loại tài sản được miễn trừ cho khối tài sản, đồng thời bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể việc xác định khối tài sản phá sản đối với trường hợp DN phá sản là DN kinh doanh chứng khoán do đặc thù của loại hình DN này.
+ Marjorie Chertok & Warren E.com11 xem xét các vấn đề pháp lý phải đối mặt với “chủ nợ được bảo đảm” của các công ty phần mềm khi tai hoạ tài chính đe doạ tính khả thi của DN, giải đáp các vấn đề như: Sự khác biệt giữa công ty phần mềm và các công ty truyền thống khi bị phá sản; Tài sản của các công ty kinh doanh phần mềm và làm thế nào có được lợi ích an ninh trong các tài sản này; Cách thức tối đa hoá giá trị tài sản của công ty kinh doanh phần mềm cho chủ nợ được bảo đảm khi nộp đơn xin phá sản; Làm thế nào để các nhà đầu tư mạo hiểm có thể thoả thuận kinh phí ước tính để bảo vệ tố nhất cả hoạt động đầu tư của họ và việc truyền vốn mới cho các công ty kinh doanh phần mềm trước khi nó được vận hành lại. Stevenson12 đề xuất các biện pháp nhằm bảo vệ con nợ bị phá sản sau khi được Toà án có thẩm quyền tuyên bố phá sản, trong đó có đề cập đến tài sản của các con nợ bị tuyên bố phá sản. 8 Trần Duy Tuấn (2017), “Thanh lý tài sản của DN phá sản theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam – Học viện khoa học xã hội 9 Hà Thị Khánh Huyền (2015), “Xử lý tài sản của DN mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo LPS 2014”, Luận văn thạc sĩ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội 10 Đào Hải Lâm (2015), “Quản lý tài sản của DN mất khả năng thanh toán nợ theo pháp luật phá sản hiện hành”, Luận văn thạc sĩ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội 11 Marjorie Chertok & Warren E. 641 luan an 11 + Douglas G.
Rasmussen 13 phân tích dưới góc độ kinh tế các vấn đề: Tổ chức quản lý DN và bản chất của các hãng kinh doanh; Việc khai thác tài sản ở các hãng kinh doanh; Tài sản đặc biệt và nền tảng của thị trường đầu tiên; Quyền kiểm soát, bán hàng được quan tâm và bản chất các hãng. Bài viết đi đến kết luận Chương 11 Pháp luật phá sản Hoa Kỳ (về bảo hộ phá sản DN) chỉ đóng vai trò truyền thống của nó trong môi trường tài sản chuyên ngành tồn tại, nơi những tài sản đó phải được duy trì trong một công ty cụ thể, nơi quyền kiểm soát được phân bổ không tốt và doanh số bán hàng sẽ không bán ra ở đâu khả thi. Còn các tập đoàn lớn không còn phù hợp với mô hình bảo hộ này nữa. + Bryan Cavc14: Bài viết đề cập đến một số vấn đề liên quan đến chuyển nhượng gian lận theo pháp luật của California như: các yếu tố pháp lý về nguyên nhân dẫn đến hành động gian lận của việc chuyển nhượng gian lận, cách thức xử lý đối với chuyển nhượng gian lận… Ngoài những công trình nghiên cứu được liệt kê ở trên còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đến vấn đề xác định tài sản DN trong thủ tục phá sản.
Qua những công trình nghiên cứu đó có thể thấy: Thứ nhất: Các công trình chưa có sự thống nhất về việc dùng một số khái niệm liên quan như: tài sản DN lâm vào tình trạng phá sản, tài sản của DN mất khả năng thanh toán, tài sản phá sản, tài sản của DN, tài sản còn lại của DN. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, đối tượng của bảo toàn tài sản DN trong thủ tục phá sản là tài sản của DN mất khả năng thanh toán.