Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu 3 z Chương 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Sơn Hà. Chương 4: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Sơn Hà. 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Thời gian vừa qua có rất nhiều đề tài và công trình nghiên cứu liên quan đến hiệu quả sử dụng tài sản tại doanh nghiệp.
Mỗi công trình nghiên cứu đều có những giá trị và có ý nghĩa riêng. Sau đây là một số công trình nghiên cứu: Về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động có một số công trình nghiên cứu sau: Nguyễn Thị Thanh Hằng (2014) “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Công ty xây dựng 123 – Cienco 1”, luận văn Thạc sỹ - Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội. Nguyễn Thị Minh (2014) “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Tổng Công ty đầu tư và phát triển hạ tầng Đô thị UDIC”, luận văn Thạc sỹ - Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội. Ngô Thu Yến (2009) “Một số biện pháp quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần xây lắp bưu điện Hà Nội (HASISCO)”, luận văn Thạc sỹ - Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội.
Về mặt lý luận, các luận văn đều khái quát hoá và hệ thống hoá được các lý luận cơ bản về tài sản lưu động để đưa ra cơ sở lý thuyết cần thiết để vận dụng vào đặc thù của doanh nghiệp. Về mặt thực tế, các tác giả đều phát hiện, phân tích và đánh giá và phân tích được ưu nhược điểm của các công ty, doanh nghiệp được khảo sát trong công tác sử dụng tài sản lưu động. Với luận văn “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Công ty xây dựng 123 – Cienco 1”, luận văn nêu lên những lý luận chung và đánh giá hiệu quả việc sử dụng tài sản lưu động tại Công ty xây dựng 123. Đánh giá các chỉ tiêu về tình hình tài chính của Công ty.
Dự đoán xu hướng về tình hình biến động tài chính của Công ty trong những năm tiếp theo. Chỉ ra được vấn đề trong quản trị tài sản lưu động. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn 5 z nữa hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Công ty xây dựng 123 nói riêng và những Công ty trong ngành xây lắp nói chung là khác nhau. Luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về tài sản lưu động, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, từ đó đánh giá các chỉ tiêu về tình hình tài chính của Tổng Công ty đầu tư và phát triển hạ tầng Đô thị UDIC.
Tác giả đã nghiên cứu những bài học kinh nghiệm trong việc quản lý và nâng cao hiệu quả tài sản lưu động tại Tổng công ty, chỉ ra được vấn đề trong quản trị tài sản lưu động, từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Tổng Công ty đầu tư và phát triển hạ tầng Đô thị UDIC. Về hiệu quả sử dụng tài sản cố định có: Vũ Đức Lâm (2007) “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Bưu điện Thành phố Hà Nội” ,luận văn Thạc sỹ - Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn dựa trên những vấn đề lý luận cơ bản để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại doanh nghiệp bưu chính viễn thông theo góc độ tiếp cận của quản trị doanh nghiệp. Cung cấp các giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Bưu điện Hà Nội.
Bên cạnh việc tách riêng từng loại tài sản để nghiên cứu còn có các tác giả nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản nói chung như: Đào Thị Thanh Huyền (2014) “Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty cổ phần Vận tải và Thương mại VEAM”, luận văn Thạc sỹ - Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn đã bổ sung, hoàn thiện các vấn đề lý luận cơ bản về tài sản của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp; Phân tích và đánh giá có hệ thống thực trạng quản lý tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty cổ phần Vận tải và Thương mại VEAM. Trên cơ sở những nhận xét, đánh giá về ưu, nhược điểm của hoạt động quản lý và sử dụng tài sản tại Công ty, tác giả có một số giải pháp nhằm góp phần hoàn 6 z thiện hơn nữa mảng hoạt động sử dụng tài sản tại Công ty như: tăng cường quản lý công nợ, xây dựng kế hoạch ngân quỹ hiệu quả, đổi mới và nâng cấp tài sản cố định, cắt giảm bớt nguồn nhân lực không cần thiết, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng công tác tài chính kế toán, xây dựng chế độ khen thưởng, khuyến khích hợp lý đối với cán bộ, công nhân viên, tăng cường huy động vốn, thiết lập và duy trì cơ cấu vốn tối ưu, sử dụng linh hoạt hình thức vay dài hạn, ngắn hạn, vay theo hợp đồng, vay theo hạn mức tín dụng…, tìm kiếm thêm khách hàng để không lãng phí chuyến vận tải từ Nam ra Bắc. Nguyễn Thị Thuỷ (2015) “Hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần than Vàng Danh – Vinacomin”, luận văn Thạc sỹ - Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội.
Luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường. Tác giả đã phân tích, đánh giá được thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của công ty cổ phần than Vàng Danh – Vinacomin trong ba năm từ 2012-2014, từ đó tìm ra những nguyên nhân gây ra hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng tài sản của công ty để đưa ra được những giải pháp hoàn thiện. Tại Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Sơn Hà việc làm sao tối ưu hoá hiệu quả sử dụng tài sản đã và đang được các phòng ban nội bộ của công ty tìm hiểu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh xong chưa có một văn bản hay một nghiên cứu cụ thể nào được tiến hành, vì vậy việc có một nghiên cứu chi tiết là cần thiết. Việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty sẽ giúp Công ty phân bổ và sử dụng tài sản hợp lí sao cho mang lại hiệu quả cao nhất, tăng khả năng cạnh tranh cũng như tối ưu hoá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 1. Tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình, gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích kinh kế tương lai cho doanh nghiệp đó (Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển, 2012) 1. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp thường được chia thành 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
* Tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản ngắn hạn. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 1 chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, và tài sản ngắn hạn khác.
(Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển, 2012) - Tiền và các khoản tương đương tiền như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, chứng khoán dễ thanh khoản. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn như cổ phiếu, trái phiếu. Các khoản phải thu ngắn hạn như phải thu của khách hàng, phải thu về việc trả trước cho người bán, phải thu nội bộ. 8 z - Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng gửi bán, hàng mua đang đi đường.Các tài sản ngắn hạn thường tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và được thu hồi vốn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm. - Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh khoản dưới một năm. - Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác. TSNH của doanh nghiệp thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản xuất thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Do vậy để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần phải thường xuyên phân tích từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. * Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn là những tài sản thường có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài, thời gian sử dụng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.