Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH xây dựng Seog Woo (Việt Nam) Chương 4: Giảp pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH xây dựng Seog Woo (Việt Nam) 5 z CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu khai thác về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, tuy nhiên, ở mỗi một giai đoạn của nền kinh tế, cùng với những điều kiện về tự nhiên và xã hội khác nhau thì hoạt động của doanh nghiệp cũng khác nhau. Đồng thời, mỗi một doanh nghiệp đều có cách vận hành và đặc trưng riêng có nên mặc dù đây không phải là đề tài mới nhưng vẫn được nhiều tác giả lựa chọn. Nhìn chung các tác giả đều giới thiệu về doanh nghiệp cụ thể và tiến hành phân tích tình hình sử dụng tài sản tại doanh nghiệp đó.
Từ những kết quả phân tích thu được, các tác giả sẽ đưa ra một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cũng như chất lượng quản lý tài sản cho doanh nghiệp. Một số đề tài tương tự đã được các tác giả thực hiện: - Lê Thị Mai (2011), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Hoàng Xuân, Luận văn Tài chính – Ngân hàng, trường Đại học Thương Mại. Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Hoàng Xuân kinh doanh chủ yếu các lĩnh vực nhập khẩu các loại xe máy, ô tô, kinh doanh vận tải. Trong luận văn, Tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tài sản ngắn hạn, việc tổ chức và sử dụng nguồn tài sản trong doanh nghiệp.
Đồng thời đưa ra các nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Hoàng Xuân, từ đó đề xuất các biện pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty. - Nguyễn Ngọc Linh (1999), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty bia Việt Hà - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Kế toán Tài chính, trường Đại học Thương Mại. Công ty bia Việt Hà là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước với các sản phẩm chính là bia hơi Việt Hà, nước khoáng OPAL. Tại luận văn này, Tác giả đã tiến 6 z hành nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, đánh giá thực trạng về tài sản cố định và hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty bia Việt Hà, từ đó đề xuất một số kiến nghị và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty.
- Chu Thị Thành, Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty cơ giới và xây lắp số 15, Luận văn trường Đại học Thương Mại. Công ty cơ giới và xây lắp số 15 là doanh nghiệp Nhà nước có nhiệm vụ san lắp mặt bằng nền móng các loại công trình đóng cọc, xử lý nền móng bằng cơ giới, xây dựng công trình công công, xây dựng nhà ở, khai thác chế biến đá xây dựng, sản xuất đá balát, đá băm…Trong đề tài này, Tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp. Từ đó tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty cơ giới và xây lắp số 15. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đề cập đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, tài sản cố định mà chưa bao quát toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, bên cạnh đó các giải pháp đưa ra áp dụng đối với mô hình công ty thương mại và dịch vụ, công ty cơ giới và xây lắp mà chưa áp dụng với công ty xây dựng, vì vậy luận văn này tác giả nghiên cứu vào nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản (gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn) tại Công ty xây dựng đồng thời đưa ra những đánh giá về ưu nhược điểm về hiệu quả sử dụng tài sản.
Trong luận văn, tác giả có tham khảo kinh nghiệm từ các nghiên cứu trước về hiệu quả sử dụng tài sản tại các doanh nghiệp khác, chắt lọc và bổ sung phát triển và đưa ra các giải pháp khách quan phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH xây dựng Seog Woo (Việt Nam). CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về doanh nghiệp Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi như một tế bào của nền kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động SXKD nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Doanh nghiệp có thể thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến 7 z tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Theo qui định của Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Việt Nam: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh để sinh lời. Từ khái niệm trên ta thấy rằng: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế. Tổ chức là một nhóm tối thiểu là hai người cùng hoạt động với nhau một cách có quy củ theo những nguyên tắc, thể chế và các tiêu chuẩn (văn hoá) nhất định, nhằm đặt ra mục tiêu chung. Mỗi doanh nghiệp được tổ chức dưới một hình thức pháp lý nhất định như doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh.
Hình thức tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến công tác tổ chức tài chính doanh nghiệp như phương thức hình thành và huy động vốn, việc chuyển nhượng vốn, phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với khoản nợ của doanh nghiệp v. Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động SXKD đều cần phải trả lời ba câu hỏi: Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào để đạt lợi nhuận tối đa. Muốn vậy, trước hết doanh nghiệp phải có nguồn lực vật chất không thể thiếu của mọi quá trình SXKD, đó là tài sản. Tài sản của doanh nghiệp 1.
Khái niệm vốn, tài sản của doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường cần có một lượng tài sản nhất định để thành lập và tiến hành hoạt động kinh doanh. Các tài sản đó có thể nằm tại doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. cũng có thể không nằm tại doanh nghiệp như các khoản phải thu ngắn hạn, dài hạn,. Tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó.
Để có tài sản, doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng vốn tương ứng với giá trị của tài sản đó qua việc mua bán, góp vốn hoặc được cho, biếu tặng, đi vay. Vốn 8 z và tài sản có quan hệ mật thiết với nhau, là hai mặt hiện vật và giá trị của một bộ phận nguồn lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào quá trình SXKD. Vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Tài sản là hình thái biểu hiện của vốn (có thể biểu hiện bằng hình thái vật chất cụ thể như máy móc, thiết bị.
hoặc dưới dạng vô hình như bằng phát minh, sáng chế). Do vậy quản lý vốn và tài sản trở thành một trong những nội dung quan trọng của quản trị tài chính. Mục tiêu quan trọng nhất của quản lý vốn và tài sản là đảm bảo cho quá trình SXKD tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động của doanh nghiệp.
Vai trò đó được thể hiện: - Tài sản của doanh nghiệp đảm bảo cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục. Việc thiếu hụt một loại tài sản nào đó có thể khiến cho hoạt động của doanh nghiệp bị gián đoạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh. Do đó, vấn đề quản lý, sử dụng tài sản phải luôn được đề cao trong mọi doanh nghiệp. - Việc hội nhập với nền kinh tế thế giới đã tạo ra những cơ hội hết sức thuận lợi cho phát triển kinh doanh, nhưng mặt khác cũng đem đến nhiều áp lực cạnh tranh mới.
Khi tài sản được đầu tư đầy đủ, kịp thời với cơ cấu hợp lý sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp nắm bắt nhanh chóng những cơ hội kinh doanh này. Đồng thời nó cũng giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng tụt hậu so với các đối thủ cạnh tranh. - Tài sản là yếu tố quan trọng để nhà quản lý kiểm soát tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Qua các báo cáo tài chính, nhà quản lý có thể thấy được những tồn tại, những hiệu quả thu được từ việc sử dụng tài sản, từ đó có thể đưa ra quyết định phù hợp, kịp thời cho hoạt động kinh doanh trong thời gian tiếp theo.
Phân loại tài sản của doanh nghiệp Có nhiều cách phân loại tổng tài sản của doanh nghiệp tùy thuộc mục đích nghiên cứu và quản lý như: 9 z a. Căn cứ vào nguồn hình thành, tài sản (hay vốn kinh doanh của doanh nghiệp) được hình thành từ 2 nguồn: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu: vốn chủ sở hữu biểu hiện quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp đối với các tài sản hiện có của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn như: số tiền đóng góp của nhà đầu tư - chủ doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối - số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.