Chương 1 cung cấp khái niệm tổng quát về tài chính, những lý do chủ yếu của việc học ngành tài chính, các nguyên tắc cơ bản của tài chính, thông tin và số liệu về các cuộc khủng hoảng tài chính nổi bật trong lịch sử, một số câu chuyện thành công và thất bại của các cá nhân và tổ chức trong lĩnh vực tài chính, và chương trình đào tạo chuyên ngành Tài chính tại nhà trường. KHÁI NIỆM TÀI CHÍNH 1. Khái niệm tài chính Tài chính là một ý niệm nền tảng trong kinh tế học, và đây là một phạm trù khách quan. Sự xuất hiện, tồn tại và tiến hóa của tài chính luôn đi đôi với sự phát sinh của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ và sự xuất hiện của các thể chế nhà nước, do vậy nó hoàn toàn độc lập với ý muốn chủ quan của con người.
Nói cách khác, sự ra đời của các mối quan hệ thuộc phạm trù tài chính là một tiến trình không thể đảo ngược trong tiến trình lịch sử nhân loại. Minh họa quan hệ tài chính Nguồn: Tác giả tổng hợp Về bản chất, tài chính được định nghĩa là hệ thống các mối liên hệ kinh tế, được thực hiện trong quá trình phân chia của cải xã hội và các nguồn tài chính bằng việc kiến tạo, bổ sung và tiêu dùng các quỹ tiền tệ để hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế - xã hội cụ thể (Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân, 2017). Như vậy, tài chính là một khái niệm trừu tượng và là một phạm trù rộng. Tài chính chứa đựng các mối liên hệ kinh tế phát sinh giữa các đối tượng trong xã hội khi họ tạo lập, bổ sung và sử dụng các quỹ tiền tệ của mình.
Tiếp cận khái niệm tài chính đồng nghĩa với tiếp cận các sự liên kết kinh tế 2 được các đối tượng này thực hiện vì một mục đích cụ thể của họ, gắn liền với sự vận động của các dòng vốn và tiền tệ. Sự hình thành và phát triển của tài chính 1. Sự hình thành của tài chính Quá trình xuất hiện và phát triển của các quan hệ tài chính đòi hỏi hai điều kiện. Điều kiện thứ nhất mang tính tiên quyết là sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ, đây cũng là điều kiện tiên quyết định cho sự hình thành các quan hệ tài chính.
Điều kiện thứ hai mang tính hoàn thiện là sự xuất hiện của các thể chế chính quyền, đây là điều kiện thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của các quan hệ tài chính (Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân, 2017). Minh họa điều kiện hình thành và phát triển của tài chính Nguồn: Tác giả tổng hợp Để hiểu được điều kiện thứ nhất, chúng ta cần phân tích sự xuất hiện và tồn tại của nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ. Tiền tệ là một ý niệm kinh tế khách quan. Sự xuất hiện, tồn tại và tiến hóa của tiền tệ là hoàn toàn độc lập với ý muốn chủ quan của con người.
Con người không thể khẳng định đến thời điểm này, tại khu vực này, tiền sẽ ra đời; tương tự, con người cũng không thể tiên đoán đến thời điểm kia, tại khu vực kia, tiền sẽ biến mất. Khi hội đủ những điều kiện nhất định, tiền tệ sẽ xuất hiện hoặc biến mất, mà con người hoàn toàn không thể kiểm soát, đảo ngược hay thay đổi được. Cụ thể hơn, tiền tệ xuất hiện, tồn tại và biến đổi một cách song hành với sự hình thành và tăng trưởng của nền kinh tế hàng hóa. Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, họ từng có hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là: kinh tế tự nhiên tự cung tự chấp (sản phẩm do lao động của con người làm ra là để trực tiếp thỏa mãn nhu cầu của chính họ) và kinh tế hàng hóa (sản phẩm do lao động của con người làm ra là để trao đổi, mua bán trên thị trường).
Như vậy, điểm khác biệt cơ 3 bản của hai kiểu tổ chức kinh tế này là có hay không có sự trao đổi qua lại hàng hóa. Chỉ khi nào có tiến trình trao đổi, mua bán hàng hóa thì khi đó tiền tệ mới phát sinh và tồn tại. Nói cách khác, tiền tệ chính là sản phẩm trực tiếp của nền kinh tế hàng hóa, và quan hệ trao đổi hàng hóa càng sung túc, nhộn nhịp và phát triển thì tiền tệ sẽ xuất hiện càng sớm, càng đa dạng để hỗ trợ cho quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa đó. Tóm tắt quá trình ra đời và phát triển của tiền tệ Nguồn: Tác giả tổng hợp Tiến trình lịch sử của nhân loại đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội, bao gồm: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.
Vào giai đoạn đầu của hình thái cộng sản nguyên thủy, con người tự sử dụng lượng sản vật nghèo nàn, khan hiếm thu về sau khi săn bắt, hái lượm. Vì vậy, nhu cầu trao đổi vẫn chưa xuất hiện. Quá trình lao động lúc bấy giờ có hai đặc điểm nổi bật, đó là: (1) áp dụng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; và (2) trình độ lao động rất thấp kém. Cụ thể hơn, vào giai đoạn này, tất cả các thành viên trong thị tộc, bộ lạc đều sử dụng chung tư liệu sản xuất trong quá trình lao động, ví dụ: họ dùng chung cái cày, con trâu, thửa ruộng, hạt giống, cái khung cửi, .; hoàn toàn không có chiếm hữu tư nhân trong thời kỳ này.
Hơn nữa, năng suất lao động xã hội lúc bấy giờ còn khá thấp và bấp bênh, quá trình lao động diễn ra rất đơn giản, chủ yếu dựa vào hoạt động săn bắt của nam giới và hái lượm của phụ nữ. Do vậy, lượng sản vật mà con người khai thác được từ tự nhiên là rất ít ỏi, không đủ đáp ứng nhu cầu của chính bản thân người lao động và gia đình họ, nên họ chưa nghĩ đến nhu cầu trao đổi hàng hóa với người khác. Vì vậy, nền kinh tế hàng hóa chưa phát sinh trong thời kỳ công sản nguyên thủy, do vậy tiền tệ cũng chưa xuất hiện trong thời kỳ này. 4 Xã hội loài người đã trải qua hàng triệu năm dưới cuộc sống bấp bênh thời kỳ cộng sản nguyên thủy.
Vào cuối giai đoạn này, quá trình lao động của con người bắt đầu có sự chuyển biến về tính chất. Bước sang giai đoạn chiếm hữu nô lệ, quá trình lao động thể hiện hai đặc điểm rõ rệt, đó là: (1) áp dụng chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, và (2) trình độ lao động tiến bộ vượt bậc. Sự chuyển biến sang chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và những tiến bộ trong kỹ thuật lao động dần tạo ra loại và số lượng hàng hóa đa dạng và phong phú hơn trước rất nhiều. Sản lượng mà con người khai thác được từ tự nhiên và do chính họ sản xuất ra thêm không những đủ để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của bản thân họ và gia đình, mà còn tạo ra một lượng sản vật dư thừa rất lớn.
Một người lao động không thể tạo ra tất cả những loại mặt hàng mà họ cần, có nghĩa là bản thân họ vẫn có nhu cầu tiêu dùng những món hàng mà họ không sản xuất được; trong khi bản thân họ lại đang dư thừa những món hàng mà họ không tiêu thụ hết. Do đó, một cách rất tự nhiên, nhu cầu trao đổi hàng hóa trở nên quan trọng với bản thân mỗi cá nhân trong xã hội vào thời kỳ này. Con người có hai phương thức trao đổi hàng hóa, đó là: phương thức trao đổi trực tiếp và phương thức trao đổi gián tiếp. Phương thức trao đổi gián tiếp xuất hiện muộn hơn, là kết quả của sự điều chỉnh phương thức trao đổi trực tiếp và là nhân tố thúc đẩy sự ra đời của tiền tệ.
Minh họa phương thức trao đổi trực tiếp Nguồn: Tác giả tổng hợp Hình 1.4 minh họa cho một phương thức hàng hóa theo kiểu trực tiếp. Thoạt nhìn thì phương thức này có vẻ khá đơn giản, nhưng trên thực tế thì phương thức này đòi hỏi một số điều kiện, khiến cho nó khó có thể được thực hiện phổ biến và thường xuyên. Cụ thể là, phương thức trao đổi trực tiếp này yêu cầu ba điều kiện, gồm: (1) phải có sự trùng khớp về không gian trao đổi; (2) phải có sự trùng khớp về thời gian trao đổi; và quan trọng hơn hết là (3) phải có sự trùng khớp về khả năng và nhu cầu trao đổi giữa các bên. Hình thức trao đổi trực tiếp yêu cầu những điều kiện như vậy, nên nó không thể được tiến hành một cách thường xuyên và dễ dàng được, khiến cho hoạt động trao đổi hàng 5 hóa của con người tồn tại những khó khăn nhất định.
Trong một quá trình rất lâu dài, trao đổi hàng hóa theo phương thức trực tiếp này, con người sẽ dần nhận ra những nhược điểm của nó và tìm cách điều chỉnh, cải tiến. Và kết quả là cho ra đời một phương thức trao đổi mới, linh hoạt hơn rất nhiều, và phương thức trao đổi mới này cũng đã thúc đẩy ra sự ra đời của tiền tệ. Đó chính là phương thức trao đổi gián tiếp. Minh họa phương thức trao đổi gián tiếp Nguồn: Tác giả tổng hợp Hình 1.5 minh họa cho một phương thức trao đổi hàng hóa theo kiểu gián tiếp.
Một đặc điểm dễ thấy của phương thức trao đổi này là, đối với người trao đổi, giai đoạn bán và giai đoạn mua là hoàn toàn tách biệt với nhau. Và phương thức này cũng không đòi hỏi cần phải có sự thống nhất về không gian, thời gian, khả năng và nguyện vọng của các bên trao đổi như cách thức trao đổi trực tiếp, mà đơn giản hơn, nó chỉ yêu cầu mọi người trao đổi tại ngôi chợ này, chấp nhận một vật làm vật trung gian. Chính vì vậy, phương thức trao đổi gián tiếp tỏ ra là ưu việt và linh hoạt hơn rất nhiều so với phương thức trao đổi trực tiếp, vốn được con người áp dụng để trao đổi hàng hóa ở giai đoạn trước đó. Câu hỏi được đặt ra là, vật nào sẽ được chọn làm vật trung gian? Lịch sử sẽ có câu trả lời chính xác nhất.
Tuy nhiên, dù cho vật trung gian đó tồn tại dưới bất kỳ hình thái nào, thì vật trung gian đó đều được gọi là “tiền tệ”. Sự xuất hiện của vật trung gian trao đổi đánh dấu mốc thời kỳ phôi thai cho sự hình thành của tiền tệ, và cũng là bước ngoặt từ nền kinh tế hiện vật lạc hậu sang nền kinh tế tiền tệ tiến bộ hơn.