Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI ĐỐI VỚI VI PHẠM HỢP ĐỒNG SONG VỤ 1. Khái niệm chế tài đối với vi phạm hơp đồng song vụ 1. Hợp đồng song vụ và vi phạm hợp đồng song vụ 1. Hợp đồng song vụ Trong thực tiễn, đa số các hợp đồng được thiết lập trên cơ sở các bên thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ đối với nhau để cùng thực hiện nhằm đạt được những mục đích nhất định.
Theo loại hợp đồng này, mỗi bên có các nghĩa vụ nhất định, đồng thời có các quyền tương ứng. Sau khi thực hiện hợp đồng, mỗi bên sẽ đạt được những lợi ích mong muốn về tinh thần hay vật chất nào đó. Ví dụ, trong hợp đồng mua bán nói chung, người mua được quyền sở hữu món đồ mua khi được bên bán thực hiện nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu, bên bán được nhận tiền bán hàng khi bên mua thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Khác với loại hợp đồng này, loại hợp đồng khác mà chỉ có một bên của hợp đồng có nghĩa vụ, bên kia chỉ hưởng quyển, ví dự như hợp đồng tặng cho, hợp đồng cho vay,.
Dựa trên tiêu chí về tương quan và mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng, đa số các học thuyết pháp lý, trong pháp luật thực định của đa số các quốc gia đều thừa nhận thống nhất một trong các cách phân loại hợp đồng thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ, tương ứng với các loại đã đề cập trên. Trong tiếng Anh, với sự thừa nhận rộng rãi về cách phân loại này, hợp đồng song vụ được dịch là “Bilateral Contract”, hợp đồng đơn vụ được dịch là “Unilateral Contract”. Ngay từ thời La Mã, việc phân loại hợp đồng thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ cũng đã được ghi nhận và vận dụng. Trong cuốn Giáo trình Luật Hợp đồng - Phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học) của PGS.TS Ngô Huy Cương cũng đề cập: “Đó là các loại hợp đồng thông dụng theo quan niệm của Luật La Mã (luật nghiêm minh), theo đó hợp đồng đơn phương chỉ làm phát sinh nghĩa vụ đối với một bên trong hợp đồng (điển hình là hợp đồng vay mượn), cho nên gắn với nó là tố 11 quyền condictio – tố quyền đòi lại đồ vật từ con nợ.
Ngược lại hợp đồng song phương làm phát sinh đối với hiệu lực của cả hai bên đối ước, tức họ có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Hợp đồng đơn phương và hợp đồng song phương vừa trích dẫn được hiểu là một cách gọi khác tương ứng của hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ. Trong pháp luật Việt Nam, nhà làm luật cũng sử dụng cách phân loại này. Trong BLDS 2005, Điều 406 quy định định nghĩa: “Hợp đồng gồm các loại chủ yếu sau đây: 1.
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ. Trong BLDS 2015 cũng có quy định tương tự tại Điều 402. Do phạm vi của đề tài nên trong các nội dung tiếp theo của Luận văn, tác giả chỉ đi sâau làm rõ các vấn đề lý luận và pháp lý về hợp đồng song vụ.
Theo khoa học pháp lý và pháp luật thực định, hợp đồng song vụ có các đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, hợp đồng song vụ có đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng nói chung. Điều này là đương nhiên bởi lẽ hợp đồng song vụ là một loại hợp đồng được phân ra theo một tiêu chí xác định. Các vấn đề lý luận và pháp lý về hợp đồng nói chung sẽ luôn có trong và được vận dụng cho hợp đồng song vụ. Thứ hai, trong hợp đồng song vụ, mỗi bên đều có các nghĩa vụ nhất định đối với nhau, có các quyền tương ứng với nhau.
Về tổng quát, có thể rút ra công thức của hợp đồng song vụ: mỗi bên phải có ít nhất một nghĩa vụ và phải có ít nhất một quyền đối với nhau. Khi bên này thực hiện nghĩa vụ thì bên kia được hưởng quyền tương ứng, và ngược lại. Thứ ba, các quyền và nghĩa vụ của các bên có tính quan hệ, có tính phụ thuộc lẫn nhau, được thực hiện nhằm đạt mục đích giao kết hợp đồng. Khi thỏa thuận lập lên hợp đồng, trên cơ sở pháp luật và quyền tự do thỏa thuận, các bên quy định các nghĩa vụ với nhau, nếu bên này thực hiện nghĩa vụ thì bên kia được hưởng quyền tương ứng.
Các nghĩa vụ có mối quan hệ mật thiết với nhau, khi được thực hiện 12 thiện chí và đầy đủ, mỗi bên đều được hưởng đầy đủ các quyền hướng tới, như vậy mục đích của hợp đồng sẽ đạt được. Ngoài ra, các bên có thể quy định thứ tự thực hiện các nghĩa vụ đối với nhau, việc thực hiện nghĩa vụ này là cơ sở và điều kiện để bên kia có thể thực hiện được nghĩa vụ. Nếu có một bên vi phạm nghĩa vụ thì bên kia không được hưởng hoặc không được hưởng đầy đủ quyền tương ứng, hệ quả là việc thực hiện hợp đồng bị đình trệ hay bị xáo trộn, có thể gây thiệt hại hay khiến hợp đồng không thể thực hiện được. Chính vì vậy, cần nắm vững tính quan hệ, tính phụ thuộc lẫn nhau của các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ để làm cơ sở tiếp cận các vấn đề vi phạm hợp đồng, chế tài đối với vi phạm hợp đồng.
Về đặc điểm này, tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm của PGS.TS Ngô Huy Cương nhận định trong cuốn Giáo trình Luật Hợp đồng - Phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học) như sau: “.có thể nhận xét định nghĩa hợp đồng song vụ tại khoản 1 Điều 406 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 chưa hoàn toàn thỏa đáng, bởi nếu chỉ định nghĩa “Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau”, thì mới chỉ cho thấy tính quan hệ, chứ chưa thấy tính phụ thuộc lẫn nhau của các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ” [04, tr190]. Với các đặc điểm được trình bày, có thể khái quát khái niệm hợp đồng song vụ như sau: “Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, nghĩa vụ của các bên có mối quan hệ đối ứng và phụ thuộc lẫn nhau được thực hiện nhằm đạt mục đích giao kết hợp đồng”. Vi phạm hợp đồng song vụ Hợp đồng song vụ theo khía cạnh nội dung và thời gian thì có thể đưa ra cách hiểu như một bản “kế hoạch chung” cho các bên của hợp đồng, để cùng thực hiện những quyền và nghĩa vụ nhất định đối với nhau trong tương lai. Với tính chất là bản kế hoạch chung, các bên căn cứ vào mục đích giao kết, điều kiện, hoàn cảnh hiện tại và khả năng nhận thức, tư duy, dự đoán về điều kiện, hoàn cảnh tương lai của mỗi bên để cùng thỏa thuận xác định, bố trí các quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
Khi triển khai thực hiện hợp đồng, có thể vì các lý do khách quan hoặc chủ quan 13 nào đó, một bên hoặc các bên của hợp đồng có thể thực hiện hành vi vi phạm các nghĩa vụ, dẫn đến mục đícnh giao kết hợp đồng không đạt được, có thể làm phát sinh thiệt hại đối với bên bị vi phạm hợp đồng. Do đó, vi phạm hợp đồng song vụ có thể hiểu là hành vi cụ thể, có tính sai phạm và trái với các quy định của hợp đồng song vụ mà các bên đã giao kết. Vi phạm hợp đồng song vụ là thuật ngữ được xây dựng trên cơ sở thuật ngữ vi phạm hợp đồng và có bổ sung thêm các yếu tố đặc thù của hợp đồng song vụ so với hợp đồng nói chung. Trong tiếng Anh, vi phạm hợp đồng song vụ có thể dịch thành “Breach of Bilateral Contract”.
Trong nhóm nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, ở Đức, “Bộ luật dân sự Đức không đưa ra một khái niệm chung về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (hay vi phạm hợp đồng)” [16, tr359]. Hiện BLDS Đức chỉ quy định điều chỉnh các nhóm hành vi cụ thể được cho là vi phạm hợp đồng gồm chậm thực hiện nghĩa vụ và không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Trong thực tiễn xét xử ở Đức, Tòa án còn khắc phục lỗ hổng pháp luật bằng việc gộp các hành vi ngoài hai nhóm chính hành vi vi phạm hợp đồng vừa nêu thành nhóm thứ ba là “chủ động vi phạm”. Cũng nằm trong hệ thống pháp luật Civil Law, ở Pháp lại có một số điểm khác biệt.
Theo đó, BLDS Pháp quy định chia vi phạm hợp đồng thành hai nhóm cơ bản là chậm thực hiện nghĩa vụ và không thực hiện nghĩa vụ. Nhóm hành vi không thuộc hiện nghĩa vụ này bao hàm cả trường hợp không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của hợp đồng. Tiếp cận theo góc độ khác, theo hệ thống pháp luật Common Law, pháp luật ở Anh và Hoa Kỳ phân biệt các hành vi vi phạm hợp đồng thành hai dạng chính là vi phạm thực tế và vi phạm thấy trước. Dạng vi phạm thực tế là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng khi đến hạn.
Dạng thứ hai, các hành vi vi phạm thấy trước là trường hợp bên có quyền xem hành vi của bên có nghĩa vụ đã vi phạm hợp đồng khi chưa đến hạn thực hiện nhưng bên có nghĩa vụ bằng hành vi của mình hoặc tuyên bố chính thức tới bên có quyền rằng sẽ không thực hiện hợp đồng. Căn cứ vào mỗi dạng và thực tế vi phạm, luật dân sự 14 Anh, Hoa Kỳ lại đưa ra các giải pháp để bên có quyền lựa chọn để thực hiện quyền tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Không tiếp cận khái niệm vi phạm hợp đồng dựa trên sự phân loại nghĩa vụ, Công ước viên 1980 (Công ước của Liên hiệp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế) dung hòa và tiếp cận ở góc độ chung nhất về vi phạm hợp đồng.