Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾT HÔN 1. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ BẢN CHẤT CỦA KẾT HÔN 1. Khái niệm kết hôn 1. Khái niệm kết hôn dưới góc độ xã hội Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng khi con người vừa thoát thai ra khỏi cuộc sống hoang dã của động vật, khái niệm kết hôn chưa được biết đến.
Lúc này quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà mới chỉ dừng lại ở “tính loài” gọi là quan hệ “tính giao”. Vì thế, sự liên kết giữa họ chỉ nhằm thỏa mãn những nhu cầu bản năng thuần túy. Do đó, ở thời kỳ tiền sử, sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà không có sự phân chia ngôi thứ thích thuộc, không có bất cứ sự ràng buộc, ngăn cách hoặc giới hạn nào. Đó chính là sự liên kết hoàn toàn tự nhiên.
Đặt trong tiến trình phát triển của nhân loại, dần dần sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà không còn chỉ là sự ràng buộc đơn thuần bởi quan hệ tính giao mà là sự liên kết mang tính xã hội, thể hiện những giá trị văn minh của con người trong mối liên hệ đặc biệt được gọi là “hôn nhân”. Cùng với sự xuất hiện của các hình thái HN&GĐ, dù là hình thái HN&GĐ đầu tiên, chứa đựng những nét hết sức sơ khai, khái niệm “hôn nhân” bắt đầu được biết đến. Dưới góc độ này, sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà không chỉ đơn thuần nhằm thỏa mãn những nhu cầu bản năng mà là sự liên kết đặc biệt nhằm tạo dựng các mối liên hệ gia đình. “Hàng ngày tái tạo ra đời sống bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh sôi nảy nở- đó là quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, đó là gia đình”[22, tr.
Khơi nguồn để hình thành một gia đình là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người nam, nữ. Trong đời sống HN&GĐ, sự kiện xác lập quan hệ hôn nhân được gọi là “kết hôn”. Như vậy, việc kết hôn đã tạo ra một sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và người nữ, tạo thành quan hệ vợ chồng. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “kết hôn là việc nam, nữ chính thức lấy nhau thành vợ, chồng” [99, tr.
Theo truyền thống và phong tục, tập quán của người Việt Nam thì được coi là nam, nữ chính thức lấy nhau thành vợ chồng khi hai bên nam, nữ tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống. Kể từ thời điểm đó họ được 8 cộng đồng thừa nhận là vợ chồng. Vì thế, việc tổ chức lễ cưới cho hai bên nam, nữ luôn là một việc hệ trọng của một đời người. Nghi thức cưới phản ánh một không khí trang trọng, thiêng liêng đánh dấu thời điểm họ chính thức trở thành vợ chồng.
Bên cạnh nghi thức truyền thống, nghi thức tôn giáo cũng được áp dụng đối với những người theo tôn giáo. Chẳng hạn, việc tổ chức đám cưới ở Nhà thờ đối với những người theo đạo Thiên chúa hoặc tổ chức “lễ hằng thuận” tại Chùa đối với những người theo đạo Phật. Đôi nam, nữ khi tổ chức lễ cưới ở Nhà thờ hay Chùa theo nghi thức tôn giáo sẽ được thừa nhận là vợ chồng kể từ thời điểm tiến hành nghi thức đó. Khác với nghi thức truyền thống, việc tổ chức cưới theo nghi thức tôn giáo không có sự chứng kiến của nhiều người, thường chỉ là những người thân thiết nhất của đôi nam, nữ.
Vì vậy, sự thừa nhận của cộng đồng đối với quan hệ hôn nhân của hai bên nam nữ được xác lập theo nghi thức tôn giáo giới hạn hơn. Cho nên, những người theo tôn giáo thường tổ chức nghi thức truyền thống cùng với việc thực hiện nghi thức tôn giáo. Từ đó, nghi thức cưới truyền thống trở thành nghi thức phổ biến đánh dấu bước ngoặt của đời sống lứa đôi. Ở Việt Nam, theo “Thiên Nam dư hạ tập”- bộ tùng thư mang tính điển chế do Lê Thánh Tông giao cho các văn thần biên soạn năm 1483, quyển “Hồng Đức Hôn giá lễ nghi” có ghi cụ thể về nghi thức kết hôn.
Theo đó, khi kết hôn phải phải tiến hành lần lượt các lễ sau: - Lễ nghị hôn (lễ dạm mặt); - Lễ định thân (lễ đính hôn hay ăn hỏi); - Lễ nạp chưng (đưa đồ sính lễ); - Lễ thân nghinh (đón dâu). Nghi thức trên không chỉ thể hiện tính trang trọng của việc cưới hỏi mà còn có ý nghĩa đối với người kết hôn. Lễ nghị hôn là nghi lễ có ý nghĩa quyết định đến việc xem xét và tiến hành các nghi thức tiếp theo của việc cưới hỏi. Thông qua nghi lễ này, gia đình hai bên tìm hiểu rõ hơn về gia cảnh, thân thế của bên kia.
Lễ định thân (lễ đính hôn hay ăn hỏi) là nghi lễ thể hiện sự cam kết của đôi bên sẽ kết duyên vợ chồng được họ hàng hai bên xác nhận. Người xưa có câu “nhận trầu là dâu nhà họ”. Từ đó, sau lễ ăn hỏi, về hình thức cô dâu đã được xác định là dâu con của đàng nhà trai. Qua lễ nạp chưng rồi đến lễ thân nghinh (đón dâu) thì người con trai và người con gái mới chính thức nên duyên chồng vợ.
Các bước trong nghi lễ cưới đề cao sự 9 chứng kiến của người thân và cộng đồng đối với việc xác lập quan hệ vợ chồng của hai bên nam nữ. Như vậy, nghi lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống hôn nhân, bởi lẽ việc thực hiện các nghi thức này chính là sự phản ánh về hình thức đã có sự kiện thiết lập quan hệ hôn nhân được mọi người chứng kiến. Vì thế, đối với người kết hôn việc thực hiện nghi lễ cưới hỏi truyền thống là cơ sở để chứng minh giữa họ đã có sự tồn tại của quan hệ hôn nhân. Do đó, trải qua những biến cố lịch sử, nghi thức truyền thống trở thành một nét văn hóa trong đời sống HN&GĐ của người Việt Nam và là một nội dung không thể thiếu trong Luật tục của đồng bào các dân tộc như Luật tục Êđê, Luật tục Khơ me, Luật tục Gia rai.
Theo Từ điển Hán - Việt thì “kết” là hợp lại với nhau, còn “ hôn” là con trai lấy vợ [98, tr. Theo nghĩa này, thuật ngữ kết hôn muốn nhấn mạnh chuyện “lấy vợ” là việc quan trọng đối với người đàn ông. Bởi vì, “làm nhà, lấy vợ, tậu trâu” là ba việc có ý nghĩa quan trọng đối với người đàn ông. Như vậy, xét trên phương diện ngôn ngữ học, “kết hôn” chính là một từ Hán Việt chỉ việc người con trai lấy vợ.
Do ảnh hưởng của hàng nghìn năm Bắc thuộc, thuật ngữ này được người Việt Nam sử dụng khá phổ biến. Từ đó, “kết hôn”, được sử dụng để chỉ việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng. Trong đời sống hàng ngày, người Việt Nam thường sử dụng các từ: lấy vợ, lấy chồng, đi ở riêng hoặc xây dựng gia đình khi nói về việc “kết hôn” của nam hay nữ. Cách sử dụng từ như vậy là cách nói thuần Việt để chỉ việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng.
Vì thế, trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận Dự thảo Luật HN&GĐ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ “Luật lấy vợ, lấy chồng” thay cho “Luật HN&GĐ” [50, tr. Như vậy, dưới góc độ xã hội, kết hôn được hiểu là một hình thức xác lập quan hệ vợ chồng. Khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý Dưới góc độ pháp lý, khái niệm kết hôn được xem xét với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý hoặc một chế định pháp lý. • Khái niệm kết hôn với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý Hôn nhân là một hiện tượng xã hội.
Do vậy, việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng luôn là vấn đề của mọi thời đại. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng, khi chưa có Nhà nước, mọi quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng những “quy 10 ước” nhất định nhằm đảm bảo trật tự xã hội. Sự liên kết giữa người đàn ông và đàn bà cũng được điều chỉnh bởi các quy ước được hình thành một cách tự nhiên. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” Ăng-ghen đã chứng minh rằng ở thời kỳ tiền sử, để duy trì diện cấm đoán quan hệ tính giao những “quy ước” hết sức tự nhiên đã được hình thành trong xã hội thị tộc.
Nhờ đó, việc cấm đoán quan hệ tính giao giữa cha mẹ với các con, ông bà với các cháu; giữa anh chị em với nhau được tuân thủ. Sự xuất hiện của “gia đình huyết tộc”, “gia đình pu-na-lu-an” hay “gia đình đối ngẫu” hoàn toàn chịu sự phối của các quy luật tự nhiên. Hình thái HN&GĐ một vợ, một chồng ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử xã hội loài người. Bước ngoặt ấy cho thấy rằng, gia đình một vợ một chồng xuất hiện không chỉ đơn thuần do sự đào thải tự nhiên thuần túy mà đã có sự tác động của các quy luật xã hội.
Khi xã hội có sự phân công lao động sâu sắc, của cải dư thừa xuất hiện đã dẫn đến sự hình thành chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu chính là nguồn gốc cho sự xuất hiện của “Nhà nước” và “Gia đình một vợ, một chồng”. Khi Nhà nước xuất hiện, ngoài những quy ước của cuộc sống cộng đồng, các quan hệ xã hội còn được điều chỉnh bằng pháp luật. Quyền kết hôn với ý nghĩa là một quyền tự nhiên của mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Từ đó cũng hình thành khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý. Theo Dictionary of Law (Từ điển luật học) của Trường Đại học Oxford thì kết hôn (marriage) là việc xác lập quan hệ giữa vợ và chồng. Pháp luật Anh buộc người kết hôn phải thực hiện đồng thời cả hai nghi thức kết hôn là nghi thức tôn giáo và nghi thức dân sự thì hôn nhân mới có giá trị đối với những người theo một tôn giáo nhất định [129, tr. Như vậy, theo pháp luật Anh, đối với những người theo tôn giáo, khi kết hôn phải tiến hành cả hai nghi thức kết hôn thì quan hệ vợ chồng mới được thừa nhận trước pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý việc nam, nữ lấy nhau thành vợ, chồng phụ thuộc vào việc thừa nhận của Nhà nước thông qua một nghi thức cụ thể được ghi nhận trong pháp luật. Nghi thức kết hôn được thừa nhận trong pháp luật được chi phối bởi phong tục, tập quán cũng như truyền thống lập pháp của mỗi quốc gia.