CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ thuế 1. Một số khái niệm chung về nợ thuế Nợ thuế (hay tiền thuế nợ) là số tiền thuế phải nộp đã phát sinh theo quy định của pháp luật nhưng đã quá thời hạn phải nộp mà chưa được nộp vào NSNN. Người nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định của pháp luật.
Tuổi nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm kết thúc tính nợ, bao gồm cả ngày nghỉ, lễ theo quy định của pháp luật. Nợ thuế luôn gắn với một yếu tố quan trọng là thời gian nợ. Đây là tiêu chí rất cần quan tâm trong quản lý nợ thuế, không thể không sử dụng trong phân loại nợ thuế. Để đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ thuế, thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật về thuế, nhà nước quy định những hành vi nợ thuế quá hạn phải nộp một khoản tiền gọi là tiền chậm nộp thuế.
Khoản tiền này được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế. Số ngày nợ thuế của một khoản nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ thuế được nộp vào NSNN. Đặc điểm của nợ thuế 1. Nợ thuế là một hành vi phổ biến Như chúng ta đã biết, thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước.
Như vậy, nó ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của NNT. Vì vậy, ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, NNT thường có xu hướng tránh hoặc trốn thuế. Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất, lợi ích của việc nộp thuế. Chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế theo 5 đúng pháp luật.
Tình trạng trốn thuế, gian lận, nợ đọng thuế còn khá phổ biến làm thất thu NSNN, không đảm bảo công bằng xã hội. Hay nói cách khác, NNT luôn tìm mọi cách để số thuế mà họ phải nộp là ít nhất. Một trong các cách đó là nợ thuế. Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về luật quản lý thuế Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra, đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN.
Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức thuế phải nộp, người nộp thuế và thời hạn nộp thuế. Như vậy, nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của NNT bằng cách chậm hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế. Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của ĐTNT bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp. Còn nợ thuế chỉ là hành vi chây ỳ, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế. Ví dụ như, doanh nghiệp cố tình nợ số thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của pháp luật thuế để làm giảm nghĩa vụ thuế. Đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật.
Còn nợ thuế là nghĩa vụ đã được pháp luật xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp. Phân loại nợ thuế 1. Nhóm tiền thuế nợ khó thu bao gồm Tiền thuế nợ của NNT được pháp luật cho là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, chưa có hồ sơ đề nghị xoá nợ. 6 Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự: là tiền thuế nợ của NNT đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự, chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật, chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế.
Tiền thuế nợ của NNT bỏ địa chỉ kinh doanh là tiền thuế nợ của NNT mà cơ quan thuế đã kiểm tra, xác định NNT không còn hoạt động kinh doanh, đã thông báo cơ sở kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế. Tiền thuế nợ của NNT chờ giải thể là tiền thuế nợ của NNT đã thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán đầy đủ các khoản nợ thuế theo quy định của pháp luật. Tiền thuế nợ của NNT mất khả năng thanh toán là tiền thuế nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật. Nợ khó thu khác: là các khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày, không thuộc các nhóm nêu trên, cơ quan thuế đã áp dụng đến biện pháp CCNT cuối cùng nhưng vẫn không thu hồi được tiền thuế nợ.
Nhóm tiền thuế nợ đến 90 ngày Là tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 01-90 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ khó thu, nợ chờ xử lý, tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh, tiền thuế nợ trên 90 ngày, bao gồm cả tiền thuế nợ đang có khiếu nại, khiếu kiện. Nhóm tiền thuế nợ trên 90 ngày Là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp trên 90 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ khó thu, nợ chờ xử lý, tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh, tiền thuế nợ đến 90 ngày bao gồm cả tiền thuế nợ đang khiếu nại, khiếu kiện. Cơ quan thuế thực hiện cưỡng chế nợ thuế đối với nhóm tiền thuế nợ này. Nhóm tiền thuế nợ chờ xử lý Xử lý miễn, giảm là số tiền thuế nợ của NNT đang trong thời gian thực 7 hiện các thủ tục để được xử lý miễn, giảm tại cơ quan thuế theo qui định của pháp luật về thuế.
Xử lý gia hạn nộp thuế là số tiền thuế nợ của NNT đang được cơ quan thuế xử lý để gia hạn nộp thuế. Các trường hợp này được thực hiện theo qui định của pháp luật về thuế. Xử lý xoá nợ là số tiền thuế nợ của NNT đang trong thời gian thực hiện các thủ tục để được xử lý xoá nợ tại cơ quan thuế theo qui định của pháp luật về thuế. Xử lý bù trừ các khoản nợ NSNN với số tiền thuế được hoàn trả là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đã gửi hồ sơ và cơ quan thuế đang làm thủ tục hoàn thuế hoặc đang được cơ quan thuế thực hiện thủ tục lập quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu ngân sách Nhà nước.
Nhóm tiền thuế đã nộp ngân sách nhà nước đang chờ điều chỉnh Nhóm tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh là số tiền thuế đã nộp NSNN nhưng cơ quan thuế đang làm thủ tục điều chỉnh. Bao gồm các trường hợp sau: Tiền thuế đang chờ điều chỉnh do sai sót do: - NNT ghi thiếu hoặc sai các chỉ tiêu trên chứng từ thu NSNN. - Các sai sót từ Kho bạc nhà nước (KBNN) hay Ngân hàng thương mại (NHTM). - Các sai sót của cơ quan thuế như: Nhập sai dữ liệu; NNT kê khai thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính, đã nộp thuế của cơ sở sản xuất trực thuộc tại địa bàn tình/thành phố khác nơi đóng trụ sở chính, cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở kinh doanh tại trụ sở chính chưa nhận được chứng từ nộp thuế.
Tiền thuế đang chờ điều chỉnh do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc: chứng từ thất lạc, cơ quan thuế đã nhận sau thời gian thất lạc do NNT hoặc KBNN, ngân hàng cung cấp; chứng từ luân chuyển từ KBNN, NHTM sang cơ quan thuế không đúng quy định. Chứng từ do công chức thuế hoặc uỷ nhiệm thu 8 đã thu nhưng chưa kịp thời nộp tiền vào NSNN. Tiền thuế chờ ghi thu - ghi chi: là tiền thuế NNT đã kê khai và thực hiện các thủ tục nộp NSNN nhưng đang chờ cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục ghi thu - ghi chi vào NSNN, hoặc số tiền chưa đến thời hạn được cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục ghi thu - ghi chi theo định kỳ (tháng, quý, năm). Tiền thuế nợ được gia hạn nộp thuế nhưng chưa kịp thời hạch toán/ghi nhận/cập nhật trên ứng dụng, dẫn đến hệ thống vẫn theo dõi là tiền thuế nợ.
Tiền thuế nợ không tính tiền chậm nộp là tiền thuế nợ của NNT đã được cơ quan thuế ban hành quyết định không tính tiền chậm nộp. Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 1. Quản lý nợ thuế 1. Khái niệm và nội dung Khái niệm quản lý nợ thuế Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc nhằm thu hồi số thuế nợ của NNT.
Nội dung quản lý nợ thuế Mục tiêu cuối cùng của quản lý nợ thuế là đảm bảo thu đủ số thuế phải nộp của NNT vào NSNN theo quy định của pháp luật. Để đạt được mục tiêu này, công tác QLN thuế phải thực hiện ba nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, nắm bắt đầy đủ tình hình nợ thuế của NNT, số thuế phải nộp, đã nộp. Ở nội dung này, công tác QLN phải theo dõi được toàn bộ số thuế ghi thu, đã thu, số thuế còn nợ tại một cơ quan thuế. Đòi hỏi bộ phận quản lý nợ phải phản ánh được danh mục nợ thuế của một thời kỳ nhất định và lũy kế số thuế nợ của toàn bộ NNT, của từng NNT đối với từng khoản thu và tất cả các khoản thu tại một cơ quan thuế đến một thời điểm nhất định.
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng nợ thuế thông qua việc phân loại nợ, phân tích nguyên nhân nợ thuế…Đòi hỏi bộ phận QLN chỉ rõ diến biến nợ thuế trong thời kỳ nhất định để thấy được công tác quản lý nợ tốt lên hay xấu 9 đi.