CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu, NCS chia nội dung tổng quan tình hình nghiên cứu gồm hai phần: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và các công trình nghiên cứu ở Việt Nam. Bên cạnh đó, để có thể tiếp cận các công trình nghiên cứu trước đây được một cách toàn diện, có hệ thống và có tính tập trung cao, trong mỗi phần NCS sẽ căn cứ vào mục tiêu cần nghiên cứu của luận án để trình bày các công trình nghiên cứu theo hai nội dung: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế xanh Thứ hai, các công trình nghiên cứu về chính sách thuế với mục tiêu phát triển kinh tế xanh. Với mỗi nội dung, các công trình nghiên cứu sẽ được sắp xếp theo trình tự thời gian, từ cũ đến mới, điều này giúp NCS có thể tiếp cận với toàn bộ các công trình nghiên cứu trước đây và qua đó có thể thấy rõ được các công trình nghiên cứu sau đã kế thừa và phát triển được những gì so với các công trình nghiên cứu trước đó.
Từ đó, NCS có thể đưa ra các đánh giá, đồng thời tìm ra các khoảng trống để tiến hành thực hiện nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế xanh - David William Pearce , Anil Markandya , Edward Barbier (1989), Blueprint for a Green Economy của Trung tâm kinh tế môi trường London. Báo cáo này do Trung tâm Kinh tế Môi trường London thực hiện để báo cáo lên Bộ Môi trường Anh.
Báo cáo thể hiện cách thức mà các yếu tố trong môi trường của chúng ta hiện đang bị đe dọa từ nhiều loại ô nhiễm và các loại ô nhiễm này có thể tính được chi phí. Báo cáo cũng chỉ ra cách mà các chính phủ đang thực hiện để xây dựng hệ thống thuế nhằm giảm ô nhiễm, đồng thời còn tạo ra thu nhập để khắc phục những thiệt hại về môi trường. Cuốn sách kết thúc bằng một loạt các gợi ý chính sách nhằm xây dựng một nền kinh tế xanh. - Douglas Holtz-Eakin, Thomas M.
Selden (1995), Stoking the fires? CO2 7 luan an emissions and economic growth, Journal of Public Economics, No 57, page 85-101. Nghiên cứu đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và lượng khí thải CO2 - loại khí chính gây nên hiệu ứng nhà kính và sự nóng lên của toàn cầu. Nghiên cứu đã tìm hiểu ở 130 quốc gia và có được dữ liệu bảng hoàn chỉnh về lượng phát thải CO2, về GDP và dân số ở 108 quốc gia từ năm 1951 đến năm 1986. Từ các số liệu này, nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa phát thải CO 2 với GDP và dân số, đồng thời nghiên cứu sử dụng các ước tính này để dự báo lượng khí thải CO2 toàn cầu.
Nghiên cứu đã đưa ra bốn kết quả chính: Thứ nhất, nghiên cứu cho thấy lượng khí thải CO2 có xu hướng biên giảm dần khi GDP bình quân đầu người tăng. Thứ hai, mặc dù lượng khí thải CO2 có xu hướng biên giảm dần khi GDP bình quân đầu người tăng nhưng nghiên cứu chỉ ra rằng lượng phát thải CO 2 toàn cầu sẽ tiếp tục tăng với tốc độ hàng năm là 1,8%. Thứ ba, tăng trưởng kinh tế và dân số sẽ tăng nhanh nhất ở các quốc gia có thu nhập từ trung bình đến thấp và có xu hướng biên của lượng khí thải CO2 cao nhất. Cuối cùng, phân tích độ nhạy của nghiên cứu cho thấy tốc độ phát triển kinh tế chung không làm thay đổi đáng kể lượng phát thải CO2 trong tương lai.
- Stefan Schaltegger, Terje Synnestvedt (2002), The link between ‘green’ and economic success: environmental management as the crucial trigger between environmental and economic performance, Tạp chí Journal of Environmental Management số 4, tập 65 vào tháng 8/2002. Nghiên cứu đã đề cập đến hai quan điểm liên quan đến hoạt động cải thiện môi trường: Quan điểm thứ nhất: Cải thiện hoạt động môi trường sẽ làm tăng chi phí của các doanh nghiệp và do đó làm giảm lợi nhuận. Quan điểm thứ hai: cải thiện môi trường sẽ làm tiết kiệm chi phí và tăng doanh số bán hàng và do đó cải thiện hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Nghiên cứu này cũng đã thảo luận về sự khác biệt của hai quan điểm trên, đồng thời đưa ra một khung lý thuyết để giải thích sự tồn tại của các quan điểm trái ngược nhau.
Nội dung của nghiên cứu bao hàm cả việc ban hành chính sách và quản lý doanh nghiệp trong thực tế và nó cũng chỉ ra ảnh hưởng của các cách tiếp cận quản lý môi trường khác nhau đối với hiệu quả quản lý kinh tế. - Kunmin Zhang, Zongguo Wen, Liying Peng (2007), Environmental 8 luan an Policies in China: Evolvement, Features and Evaluation đăng, số 2, tập 17. Nghiên cứu này xem xét sự phát triển của các chính sách môi trường hiện tại ở Trung Quốc: bắt đầu từ sau Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường - Con người (1972 ở Stockholm) và đã đạt được những tiến bộ đáng kể vào năm 1979. Nghiên cứu đã chỉ ra các bài học mà Trung Quốc đã học được từ các nước công nghiệp hóa trong việc xây dựng các chính sách môi trường, đó là: Cần tìm hiểu các biện pháp chỉ huy và kiểm soát đến mức độ đầy đủ; Phải phấn đấu huy động kinh phí bảo vệ môi trường; Phải xác định ai là người chịu trách nhiệm về bảo vệ môi trường; Cần khuyến khích "kết hợp phòng ngừa và kiểm soát" và "sử dụng hợp nhất"; Cần mở rộng trong lĩnh vực chính sách môi trường và hợp tác quốc tế.
Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chỉ rõ sự phát triển của chính sách môi trường của Trung Quốc trong hơn 30 năm qua: vị thế từ chính sách quốc gia đến chiến lược phát triển bền vững; trọng tâm đã thay đổi từ kiểm soát ô nhiễm sang kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ sinh thái; phương pháp kiểm soát thay đổi từ kiểm soát đầu cuối sang kiểm soát nguồn; phạm vi quản lý thay đổi sang điều trị điểm để xử lý đầu nguồn và lãnh thổ; phong cách quản lý thay đổi từ sử dụng quyền hành pháp sang sử dụng các biện pháp pháp lý và kinh tế. Cuối cùng, nghiên cứu này giới thiệu về cách đánh giá các chính sách bảo vệ môi trường của cộng đồng quốc tế và triển vọng phát triển của các chính sách này trong tương lai. - Miguel Mendonça, David Jacobs and Benjamin Sovacool (2010), cuốn sách Powering the Green Economy xuất bản lần đầu bởi Earthscan ở Anh và Mỹ năm 2010. Cuốn sách này đề cập đến chính sách chủ động thúc đẩy năng lượng tái tạo và tạo điều kiện cơ bản cho phát triển nền kinh tế xanh - được gọi là feed-in tariff, hay là FIT.
FIT được chứng minh là biện pháp hiệu quả nhất và có giá trị nhất, bằng cách cho phép tất cả mọi người bán năng lượng tái tạo vào lưới điện và họ sẽ nhận được một khoản lợi tức. Cuốn sách này cũng thảo luận về những thách thức mà chính sách năng lượng tái tạo phải đối mặt, đồng thời cũng đưa ra một số bài học để phát triển năng lượng tái tạo, bao gồm: Xây dựng chính sách phát triển năng lượng tái tạo; giới thiệu về FIT và các chính sách đang áp dụng ở các nước phát triển; nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật, xã hội và chính trị của từng quốc gia; phân tích các 9 luan an chương trình hỗ trợ khác; mô tả các rào cản đối với năng lượng tái tạo; xây dựng một kế hoạch triển khai chi tiết cho các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhóm cộng đồng… và bất cứ ai liên quan đến việc tạo ra năng lượng bền vững. - Edward B Barbier (2011), The Policy Challenges for Green Economy and Sustainable Economic Development xuất bản năm 2011. Nghiên cứu này cung cấp định nghĩa về đầu tư xanh, phân tích xu hướng và các yếu tố quyết định đầu tư trong thập kỷ qua đối với 35 quốc gia phát triển và đang phát triển.
Nghiên cứu cho thấy đầu tư xanh đã trở thành động lực chính của ngành năng lượng và sự phát triển nhanh chóng của đầu tư xanh hiện nay có sự đóng góp lớn của Trung Quốc. Kết quả sử dụng mô hình kinh tế lượng cho thấy đầu tư xanh được thúc đẩy bởi tăng trưởng kinh tế, một hệ thống lãi suất thấp, và giá nhiên liệu cao. Nghiên cứu cũng cho thấy sự phát triển của nền kinh tế sẽ không đảm bảo tính bền vững chừng nào chưa ngăn chặn được sự suy giảm và mất mát của hệ sinh thái toàn cầu. Để vượt qua được vấn đề này đòi hỏi các nhà hoạch định phải xây dựng hàng loạt các biện pháp về thị trường, ban hành chính sách và thể chế nhằm ngăn chặn sự suy giảm và mất mát của hệ sinh thái.
Mục tiêu của các biện pháp này nhằm khắc phục sự thiếu hụt giữa các lợi ích toàn cầu mà con người nhận được từ các hệ sinh thái và những gì chúng ta sẵn lòng chi trả để duy trì và bảo tồn chúng. - Karen Morrow (2012), Rio+20, The Green Economy and Re-Orienting Sustainable Development xuất bản vào tháng 1/2012. Bài báo đã xem xét vai trò của các phương pháp tiếp cận nền kinh tế xanh hướng tới phát triển bền vững trong và sau thời gian diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio + 20. Bài báo cũng chỉ ra các căng thẳng vốn có và ngày càng trở nên rõ ràng trong mô hình phát triển bền vững, đồng thời xem xét tác động của phương pháp tiếp cận nền kinh tế xanh như đã cam kết trong Rio + 20.
- Luc Eyraud, Benedict Clements (2012), Going Green đăng trên tạp chí Finance & Development, số 2, xuất bản tháng 6/2012. Nghiên cứu khẳng định biến đổi khí hậu sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng về môi trường và sức khoẻ. Biến đổi khí hậu sẽ gây ra những hiệu ứng nguy 10 luan an hiểm: nhiệt độ trái đất tăng, mực nước biển dâng và điều kiện thời tiết khắc nghiệt sẽ ảnh hưởng đến sản lượng và năng suất. Hơn nữa, theo nghiên cứu này biến đổi khí hậu có thể sẽ làm suy giảm tình hình tài chính của chính phủ do giảm thu thuế và tăng nhu cầu chi tiêu cho các chương trình nhằm giảm thiểu biến đổi khí hậu.
Từ đó, nghiên cứu đề xuất định nghĩa về đầu tư xanh, phân tích xu hướng và các yếu tố quyết định đến hoạt động đầu tư xanh trong thập kỷ qua của các nước phát triển và đang phát triển.