CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH THUẾ GIÁN THU 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Theo tìm hiểu của tác giả, trên thế giới hiện nay có nhiều tài liệu có liên quan đến chính sách thuế nói chung và chính sách thuế gián thu nói riêng. Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài liên quan đến chính sách thuế nói chung và chính sách thuế gián thu mà nghiên cứu sinh có điều kiện tiếp cận là: (1) On selective indirect tax reform in developing countries của M.Shahe Emran, Joseph E. Nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng cải cách thuế gián thu ở các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển đều có xu hướng cải cách theo hướng giảm thuế thương mại, tăng thuế GTGT để tăng số thu ngân sách.
Xu hướng này được rút ra trên nền tảng lý thuyết về cải cách có chọn lọc khi hoàn thiện các chính sách. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu chỉ mới tập trung nghiên cứu xu hướng tăng thuế GTGT trong điều kiện nền kinh tế chính thức đề cập tới tác động của việc tăng thuế GTGT và giảm thuế thương mại đối với nền kinh tế phi chính thức. Hơn nữa, khi mở rộng cơ sở tính thuế GTGT, giảm thuế thương mại có thể làm giảm phúc lợi của nền kinh tế. Kết quả này gây ra nghi ngờ về mô hình cải cách chính sách thuế gián thu mà một số lượng lớn các nước đang phát triển theo đuổi.
(2) Taxation in Developing Countries: Six Case Studies and Policy Implications của Roger H.Gorden Đại học Columbia (2010) [72]. Trong nội dung cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra chính sách thuế là một chính sách quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Mục tiêu của nghiên cứu đặt ra là: Thứ nhất, Chính sách thuế đề xuất mới phải khuyến khích đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh. Thứ hai, với vai trò là nguồn thu quan trọng, thuế gián thu phải có tác động chủ yếu tới hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả của chính sách miễn giảm thuế tới phát triển nền kinh tế. Tác giả cuốn sách không nghiên cứu một cách toàn diện 8 luan an tác động của chính sách thuế đối với các nước đang phát triển mà lựa chọn nghiên cứu 6 quốc gia điển hình như: Argentina, Brazil, Ấn Độ, Kenya, Hàn Quốc và Nga. Theo như tác giả thì 6 quốc gia điển hình này thể hiện rõ những vấn đề tài chính đa dạng của công cuộc cải cách thuế. Nghiên cứu sau khi phân tích chính sách thuế ở 6 quốc gia nói trên và tổng hợp kết quả số thu từ thuế có thể thấy rằng ở các nước có nền kinh tế đang phát triển có nguồn thu ngân sách từ thuế dựa chủ yếu vào thuế gián thu và thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh thu từ thuế vẫn còn thấp (3) Tax policy and tax reform in the People's Republic of China, Báo cáo của OECD 18 (2013) [69].
Báo cáo này so sánh hệ thống thuế ở Trung Quốc với hệ thống thuế ở các nước OECD và cải cách thuế Trung Quốc và các nước OECD đã thực hiện trong quá khứ. Những vấn đề hiện đang trong chương trình nghị sự cải cách của Trung Quốc, bao gồm thuế TTĐB, thuế GTGT, thuế liên quan đến môi trường, thuế thu nhập cá nhân, quan hệ tài chính giữa các cấp chính quyền trung ương và địa phương và thuế tài sản. Báo cáo đưa ra một số phân tích sơ bộ về tỷ lệ thuế so với GDP và sự kết hợp giữa các sắc thuế ở Trung Quốc. Báo cáo cũng chỉ ra nền văn hoá, truyền thống và hệ thống pháp luật của một quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình các chính sách thuế và cách thức cải cách.
Trên cơ sở thảo luận chi tiết và đánh giá mỗi loại thuế, xem xét các hướng cải cách có thể cho từng loại thuế trong tương lai của Trung Quốc, báo cáo đã đánh giá hệ thống chính sách thuế hiện hành của Trung Quốc đã được xây dựng đơn giản, minh bạch, thân thiện và công bằng hơn. Bài báo này phân tích xem các khía cạnh khác nhau của hệ thống thuế của một quốc gia có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến thái độ của cá nhân đối với tương lai. Dựa vào việc nghiên cứu, phân tích và xây dựng một chỉ số định hướng tương lai trực tuyến cho 58 quốc gia đại điện cho các châu lục trong vòng 5 năm. Kết quả của phân tích này chỉ ra rằng thuế thu nhập cá nhân và đặc biệt là thuế giá trị gia (VAT) tăng khuyến khích hành vi định hướng tương lai.
9 luan an (5) Tax Policy for Industrial Development của Dale Chua, 1991 [57] thuộc Viện phát triển quốc tế Harvard dịch nghĩa là “Chính sách thuế cho phát triển công nghiệp”. Nghiên cứu được thực hiện theo đơn đặt hàng của Ủy ban công nghiệp Srilanca với sự tài trợ của cơ quan viện trợ phát triển Mỹ trong dự án nghiên cứu và đào tạo. Với chính sách thuế hiện hành rất phức tạp của Srilanca, nhiệm vụ của nhóm tác giả là nghiên cứu và đề xuất một chính sách thuế có tính hiệu lực và hiệu quả hơn trước. Nghiên cứu đã đi sâu phân tích nội dung các chính sách thuế trong hệ thống thu của NSNN Srilanca trên cả phương diện cơ sở lý luận cũng như những chứng minh bằng các số liệu tính toán.
Báo cáo tập trung nghiên cứu, đánh giá các sắc thuế gián thu như thuế GTGT, thuế TTĐB ở các nước thành viên OECD, nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt về cơ sở thuế gián thu, mức thuế suất và các nguyên tắc thực hiện giữa các quốc gia. Đặc biệt, nghiên cứu cũng đã đánh giá những thất thu về thuế gián thu do hậu quả của việc miễn giảm thuế, gian lận, trốn thuế, nêu bật các xu hướng phát triển của thuế gián thu. Các tài liệu nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài mà nghiên cứu sinh được tiếp cận ở trên là những tài liệu quý, đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến vai trò, cơ cấu nguồn thu từ thuế gián thu và xu hướng cải cách thuế gián thu ở các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, do có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, về văn hoá- xã hội cho nên hiện có những điểm không tương đồng trong cách nhìn nhận, đánh giá đối với một số chính sách thuế giữa Việt Nam và một số nước phát triển trên thế giới,.
Mặc dù vậy, những nghiên cứu trên cũng có giá trị khoa học và là tư liệu quý để tham khảo, học tập kinh nghiệm trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế ở Việt Nam.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Ở Việt Nam, đã có một số công trình triển khai nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện chính sách thuế gián thu dưới dạng sách, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ có liên quan đến việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế. Một số công trình điển hình như: 10 luan an Sách, giáo trình Tác giả Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Thị Liên (2008) trong cuốn “Giáo trình nghiệp vụ thuế” [18] đã tập trung vào việc giới thiệu các nguyên tắc tính thuế và nội dung cơ bản của các sắc thuế ở Việt Nam. Cùng chủ đề đó, tiếp cận theo hướng hệ thống thuế hiện hành ở Việt Nam, trong cuốn “Thuế thực hành” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh (2009) [28] đã cho thấy cái nhìn toàn diện về toàn bộ chính sách thuế cũng như vấn đề quản lý thuế nói chung. Tác giả Đỗ Đức Minh, Nguyễn Việt Cường (2007, 2010) [30] trong cuốn giáo trình “Lý thuyết thuế” hệ thống hóa đầy đủ lý luận về thuế, gồm các nguyên lý, nguyên tắc, phương pháp đánh thuế cũng như những tác động kinh tế của thuế.
Tương tự, tác giả Hoàng Văn Bằng (2009) [10] trong sách chuyên khảo “Lý thuyết và chính sách thuế” ngoài việc nêu lên khuôn khổ lý thuyết về thuế, điểm đặc biệt là đề cập rất chi tiết đến chính sách thuế trong thực tiễn ở các nước trên thế giới. Tác giả Lê Xuân Trường (2015) [51] lại hướng sự tập trung vào các vấn đề về quản lý thuế, trong cuốn giáo trình “ Quản lý thuế ”, tác giả đã cho thấy một cách toàn diện các vấn đề cả về lý thuyết và thực tiễn quản lý thuế, nó không đơn thuần chỉ là việc thực hiện các thủ tục hành chính thuế, thay đổi cơ chế tính thuế mà những khía cạnh như thanh kiểm tra, tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế (NNT) cũng được nhìn nhận thấu đáo. Tác giả Vương Thị Thu Hiền (2010, 2014), trong cuốn giáo trình “Thuế tiêu dùng” ngoài việc nêu ra nội dung, nguyên tắc thiết lập các sắc thuế như thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế BVMT, thuế XK, thuế NK. Các nghiên cứu này được thực hiện khá công phu, là tài liệu tham khảo rất có giá trị.
Tuy nhiên, do nghiên cứu dựa trên nhiều văn bản pháp luật nên điểm hạn chế chung của các nghiên cứu này là đã có nhiều sửa đổi quan trọng chưa được cập nhật. Ngoài ra, khi tập trung vào các vấn đề thuế nói chung, ở lĩnh vực cụ thể đòi hỏi hướng nghiên cứu gắn với đặc trưng ngành, lĩnh vực thì các tài liệu này chưa đề cập một cách đầy đủ. Luận án tiến sỹ Nhiều công trình luận án tiến sỹ, của các tác giả trong nước đã thay đổi hướng nghiên cứu theo cách đi vào từng ngành, lĩnh vực, hoạt động cụ thể hoặc chỉ nghiên cứu riêng từng sắc thuế trong điều kiện, bối cảnh nghiên cứu khác nhau như: 11 luan an (1) Luận án tiến sỹ của Nguyễn Xuân Nhạt năm 1995 “Những giải pháp hoàn thiện chính sách thuế gián thu ở Việt Nam” [31] luận án đã khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận các sắc thuế thuộc thuế gián thu như thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Trên cơ sở những nghiên cứu này, tác giả đã đề xuất những định hướng về cải cách hệ thống thuế, đề xuất bổ sung, sửa đổi những quy định về thuế nhằm hoàn thiện chính sách thuế gián thu giai đoạn 1995-2000.
(2) Luận án tiến sỹ của Lê Thu Huyền năm 2008 “Đổi mới chính sách thuế tiêu dùng ở Việt Nam”,[24] tác giả đã khái quát cơ sở lý luận về thuế tiêu dùng (trong đó có các sắc thuế phổ biến như thuế GTGT, thuế XK, NK, thuế TTĐB….), tác động của thuế tiêu dùng đối với hoạt động kinh tế - xã hội.