Luận văn các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại NHTM Việt Nam

Luận văn phân tích các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản trị.

Trường đại học

Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2025

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại NHTM

Hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro tài chính nghiêm trọng. Rủi ro tín dụng phản ánh tình trạng bên vay không thể hoàn trả nợ gốc hoặc lãi đúng kỳ hạn. Tình trạng này làm suy giảm chất lượng tài sản có và gia tăng chi phí trích lập dự phòng. Nghiên cứu thực nghiệm xác định rõ các nhân tố ảnh hưởng giúp ngân hàng đưa ra chiến lược kinh doanh an toàn. Đề tài luận văn thạc sĩ tập trung phân tích 24 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2011–2023. Các nhà nghiên cứu sử dụng tỷ lệ nợ xấu đại diện cho mức độ rủi ro tín dụng. Cơ sở lý thuyết bao gồm thuyết thông tin bất đối xứng, thuyết đạo đức rủi ro và thuyết chu kỳ kinh doanh. Nghiên cứu làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các chỉ số tài chính nội tại với biến động môi trường vĩ mô. Kết quả phân tích cung cấp bức tranh toàn diện về chất lượng danh mục cho vay. Việc nắm vững quy luật vận động của rủi ro là yêu cầu sống còn đối với sự bền vững tài chính.

1.1. Khái niệm và bản chất rủi ro tín dụng ngân hàng

Rủi ro tín dụng xuất hiện khi người vay không tuân thủ các cam kết thanh toán trong hợp đồng. Đây là loại rủi ro mang tính chất cố hữu và phức tạp trong hoạt động ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là chỉ báo phản ánh rủi ro tín dụng phổ biến nhất. Khoản nợ xấu gia tăng làm giảm nguồn thu từ lãi của ngân hàng. Đồng thời, ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro lớn hơn từ nguồn lợi nhuận. Sự suy giảm nguồn vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số an toàn vốn. Khái niệm này bao gồm cả tổn thất thực tế và tổn thất kỳ vọng phát sinh từ các khoản nợ quá hạn. Nhận diện bản chất rủi ro giúp xây dựng giới hạn cấp tín dụng an toàn.

1.2. Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu thực nghiệm

Khung phân tích rủi ro tín dụng dựa trên nhiều nền tảng lý thuyết tài chính hiện đại. Lý thuyết thông tin bất đối xứng giải thích hiện tượng lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức khi cấp tín dụng. Người đi vay thường nắm giữ nhiều thông tin kinh doanh hơn tổ chức cho vay. Bên cạnh đó, lý thuyết chu kỳ kinh doanh chỉ ra sự suy giảm khả năng trả nợ trong giai đoạn suy thoái kinh tế. Các mô hình thực nghiệm xây dựng hàm phụ thuộc của tỷ lệ nợ xấu theo hai nhóm biến chính. Nhóm biến cấp ngân hàng phản ánh đặc điểm quản trị nội bộ. Nhóm biến vĩ mô phản ánh bối cảnh nền kinh tế quốc gia. Sự kết hợp lý thuyết tạo nền tảng vững chắc cho mô hình định lượng.

II. Phân tích các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại NHTM

Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam chịu sự tác động đồng thời của nhiều nhân tố. Các nhân tố này được chia thành đặc trưng nội tại của tổ chức tín dụng và môi trường vĩ mô bên ngoài. Về mặt nội tại, hiệu quả sinh lời trên vốn chủ sở hữu và quy mô vốn có mối tương quan nghịch với tỷ lệ nợ xấu. Ngân hàng có năng lực tài chính mạnh thường sở hữu quy trình thẩm định tín dụng chặt chẽ hơn. Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nóng trong quá khứ thường làm tăng rủi ro trong tương lai. Về mặt vĩ mô, tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát là hai biến số quyết định khả năng hoàn trả của khách hàng. Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, thu nhập của doanh nghiệp và hộ gia đình giảm sút. Sự sụt giảm nguồn thu dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản vay. Ngoài ra, biến cố dịch bệnh Covid-19 và tỷ lệ thất nghiệp cũng tạo ra cú sốc tiêu cực cho thị trường tín dụng. Việc xác định đúng mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố là điều kiện tiên quyết để ngân hàng chủ động phòng ngừa rủi ro.

2.1. Nhóm nhân tố nội tại từ hoạt động quản trị ngân hàng

Nhóm nhân tố vi mô phản ánh trực tiếp sức khỏe tài chính và chính sách kinh doanh của từng ngân hàng. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao giúp ngân hàng củng cố nguồn vốn đệm dự phòng. Ngân hàng có quy mô tài sản lớn sở hữu lợi thế công nghệ và hệ thống kiểm soát rủi ro hiện đại. Ngược lại, tốc độ mở rộng tín dụng quá nhanh thường đi kèm với việc hạ chuẩn thẩm định. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản cao tạo lớp màng bảo vệ an toàn trước biến cố vỡ nợ. Cơ cấu sở hữu nhà nước cũng tạo ra sự khác biệt trong khẩu vị rủi ro và chính sách ưu tiên tín dụng ngành.

2.2. Nhóm nhân tố vĩ mô và biến cố kinh tế bất định

Môi trường kinh tế vĩ mô có tác động mang tính hệ thống đến tất cả các ngân hàng thương mại. Tốc độ tăng trưởng GDP cao thúc đẩy doanh thu doanh nghiệp, từ đó làm giảm tỷ lệ nợ quá hạn. Lạm phát tăng cao làm giảm giá trị thực của dòng tiền và đẩy chi phí sản xuất lên cao. Khách hàng vay vốn gặp khó khăn trong việc cân đối ngân sách trả nợ. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng làm suy giảm khả năng chi trả của nhóm khách hàng cá nhân. Bên cạnh đó, các cú sốc bất thường như dịch bệnh Covid-19 làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu. Rủi ro thanh khoản chuyển hóa nhanh chóng thành rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

III. Phương pháp định lượng đánh giá rủi ro tín dụng tại NHTM

Để đánh giá chính xác tác động của các yếu tố, nghiên cứu áp dụng các phương pháp kinh tế lượng hiện đại. Dữ liệu bảng thu thập từ 24 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011–2023. Các mô hình truyền thống như OLS gộp, mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên thường gặp hiện tượng nội sinh. Hiện tượng nội sinh xuất hiện do rủi ro tín dụng quá khứ có xu hướng kéo dài sang các kỳ tiếp theo. Phương pháp ước lượng mô-men tổng quát dạng sai phân hoặc hệ thống là công cụ tối ưu để khắc phục khuyết tật này. Phần mềm chuyên dụng STATA hỗ trợ thực hiện các kiểm định tự tương quan và kiểm định tính hợp lệ của biến công cụ. Kết quả hồi quy cung cấp các hệ số ước lượng vững và không chệch. Dựa trên kết quả thực nghiệm, ngân hàng có thể định lượng chính xác độ nhạy cảm của nợ xấu trước từng cú sốc tài chính. Đây là cơ sở khoa học để thiết lập ngưỡng cảnh báo sớm và đưa ra giải pháp tái cơ cấu nợ kịp thời.

3.1. Kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng động và mô hình GMM

Mô hình dữ liệu bảng động đưa biến phụ thuộc trễ vào phương trình hồi quy. Biến trễ của nợ xấu phản ánh tính bền vững và độ trễ phản ứng của rủi ro tín dụng. Phương pháp ước lượng GMM hai bước sử dụng các biến trễ làm biến công cụ hiệu quả. Kỹ thuật này giải quyết triệt để vấn đề phương sai thay đổi, tự tương quan và nội sinh. Kiểm định Arellano-Bond được dùng để kiểm tra sự vắng mặt của hiện tượng tự tương quan bậc hai trong phần dư sai phân. Đồng thời, kiểm định Hansen hoặc Sargan xác nhận tính hợp lệ của hệ thống biến công cụ. Quy trình xử lý dữ liệu đảm bảo tính tin cậy tuyệt đối cho các kết luận kinh tế lượng.

3.2. Giải pháp kiểm soát nợ xấu và củng cố an toàn vốn

Các giải pháp kiểm soát nợ xấu cần tập trung vào việc siết chặt quy trình cấp tín dụng từ khâu đầu vào. Ngân hàng cần hoàn thiện mô hình chấm điểm tín dụng nội bộ bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn. Việc nâng cao tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể giúp ngân hàng chủ động nguồn lực xử lý tổn thất nợ xấu. Đồng thời, các ngân hàng cần đa dạng hóa danh mục cho vay để tránh tập trung rủi ro vào bất động sản. Tăng cường tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel II và Basel III tạo đệm hấp thụ cú sốc thị trường. Quản trị thanh khoản chặt chẽ bảo vệ ngân hàng trước biến động rút vốn đột ngột.

IV. Kết luận nghiên cứu yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng NHTM

Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam mang lại nhiều giá trị thực tiễn. Kết quả phân tích khẳng định sự phối hợp chặt chẽ giữa năng lực quản trị nội tại và biến động kinh tế vĩ mô. Tăng trưởng kinh tế ổn định và kiểm soát lạm phát là điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp duy trì năng lực trả nợ. Về phía ngân hàng, nâng cao năng lực vốn và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý là chìa khóa duy trì chất lượng tài sản. Tỷ lệ sinh lời cao và quy mô vốn lớn tạo nền tảng vững chắc để ngân hàng chống chịu trước khủng hoảng. Các kết luận này là tài liệu tham khảo quan trọng cho cả cơ quan quản lý và các tổ chức tài chính. Việc áp dụng mô hình định lượng giúp phát hiện sớm các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng. Sự kết hợp giữa chính sách tiền tệ thận trọng và quản trị rủi ro chủ động sẽ bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.

4.1. Khuyến nghị chính sách cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Cơ quan quản lý nên duy trì chính sách tiền tệ linh hoạt nhằm kiềm chế lạm phát và hỗ trợ thanh khoản hệ thống. Việc giám sát chặt chẽ hạn mức tăng trưởng tín dụng giúp ngăn ngừa tình trạng bong bóng tài sản. Ngân hàng Nhà nước cũng cần đẩy mạnh việc triển khai chuẩn mực an toàn vốn Basel II nâng cao và Basel III tại các tổ chức tín dụng. Cung cấp dữ liệu tín dụng tập trung qua CIC hỗ trợ các ngân hàng thương mại đánh giá khách quan hồ sơ khách hàng.

4.2. Định hướng chiến lược tín dụng cho ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại cần tái cấu trúc danh mục cho vay theo hướng cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro. Tổ chức tín dụng phải chủ động nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm bằng các chỉ số tài chính vi mô. Việc xây dựng kịch bản kiểm tra sức chịu đựng giúp ngân hàng dự báo nhu cầu vốn khi xảy ra biến cố vĩ mô. Đồng thời, ngân hàng cần đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thẩm định. Tăng cường chuyển đổi số trong quy trình phê duyệt giúp rút ngắn thời gian xử lý và giảm thiểu sai sót do con người.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Luận văn các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 khái quát nội dung tổng quan của nghiên cứu, bao gồm lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cùng những đóng góp mới của luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày bố cục luận văn nhằm thiết lập tiền đề cho những chương sau. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 2.

Tổng quan cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại 2. Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại Tín dụng, tiếng Latinh gọi creditium, tiếng Anh gọi credit, có nghĩa là tin tưởng và tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn. Theo Nguyễn Minh Kiều (2006) Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.

Được xem là quan hệ tín dụng khi nào chứa đựng đầy đủ 3 nội dung: sự chuyển nhượng này có thời hạn và có kèm theo chi phí, có sự chuyển nhượng quyền sử vốn từ người sở hữu sáng cho người sử dụng. Nếu thiếu một trong những nội dung trên thì không còn là quan hệ tín dụng. Theo Lê Thị Tuyết Hoa & Đặng Văn Dân (2017) Tín dụng được xem như công cụ cho vay có mối quan hệ chuyển nhượng giá trị (tiền hoặc các hiện vật có giá trị) từ chủ sở hữu sang người cần sử dụng trên cơ sở kỳ vọng có hoàn trả lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Tín dụng là hình thức cho vay mà qua đó tổ chức tín dụng cung cấp cho khách hàng một khoản tiền được dành riêng cho mục đích đã giao kết trước đó với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi.

Hình thức của quan hệ tín dụng rất khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố tham gia vào quan hệ tín dụng như: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng và tín dụng nhà nước. Điều này cho thấy tín dụng ngân hàng là hình thức cấp tín dụng quan trọng nhất, vì nó đáp ứng hầu hết các nhu cầu tín dụng của các chủ thể kinh tế. Tóm lại, tín dụng ngân hàng là quan hệ luân chuyển vốn giữa các ngân hàng (bên cho vay) với các chủ thể trong nền kinh tế (bên đi vay) được thực hiện dưới dạng một cuộc thỏa thuận có hợp đồng chính thức trong đó bên đi vay sẽ nhận được một khoản tiền hoặc tài sản tương đương có giá trị và trả lại bên cho vay vào một thời điểm nhất định đồng thời có điều kiện đi kèm như đã thỏa thuận trước đó. Khi đến hạn, bên 9 đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng.

Khái niệm rủi ro tín dụng Theo khoản 24, điều 2 thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN: Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo Uỷ ban Basel (2009) thì: Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi. Theo Trần Huy Hoàng (2011), Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác vay vốn không thực hiện một nghĩa vụ tài chính của mình hoặc nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng đối với ngân hàng bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn.

Hiểu một cách khác thì rủi ro tín dụng là rủi ro không thu hồi được nợ khi đến hạn do người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc có hoàn trả khi đáo hạn. Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, có hai cấp độ: + Khách hàng có khả năng trả nợ nhưng tiến độ trả không đúng hạn. + Khách hàng không có khả năng trả được nợ cho ngân hàng. Như vậy, rủi ro tín dụng tiềm ẩn nguy cơ mất vốn của ngân hàng khi người đi vay (doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội) không thực hiện đúng cam kết trả nợ.

Tín dụng là hoạt động quan trọng, mang lại nguồn thu chính cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng chiếm tỷ trọng cao trong tổng rủi ro hoạt động của ngân hàng. Do đó, rủi ro tín dụng là điều mà hầu hết các ngân hàng quan tâm và quản lý chặt chẽ. Phân loại rủi ro tín dụng ➢ Phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro: Theo Trần Huy Hoàng (2011), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành hai loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục: + Rủi ro giao dịch phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá khách hàng bao gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.

Rủi ro lựa chọn liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng để đưa ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm phát sinh từ những tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. Rủi ro nghiệp vụ liên quan đến việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật để giải quyết khoản vay có vấn đề. + Rủi ro danh mục: phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay, xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng. Rủi ro tập trung phát sinh khi tập trung vốn cho vay vào một khách hàng hoặc một lĩnh vực kinh tế, dễ dẫn đến rủi ro cao. ➢ Phân loại theo tính chất của rủi ro: + Rủi ro khách quan là rủi ro thất thoát khoản vay mặc dù cả ngân hàng và người đi vay đều thực hiện đầy đi nghĩa vụ của mình do các nguyên nhân như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay bị chết, mất tích. + Rủi ro chủ quan là rủi ro do lỗi của bên đi vay hoặc của ngân hàng do vô tình hay cố tình gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay.

Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng Với rủi ro tín dụng là loại rủi ro quan trọng nhất của các ngân hàng, dự phòng rủi ro trích lập và nợ xấu được xem là những thước đo phổ biến và đáng tin cậy nhất. 11 ➢ Dự phòng rủi ro tín dụng Việc trích lập dự phòng rủi ro cho vay sẽ tạo một khoản chi phí trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, được xem như một khoản trích lập dự phòng cho các khoản vay có rủi ro và chưa được thu hồi. Khoản dự phòng này được sử dụng để trang trải cho các tổn thất khi ngân hàng không thể thu hồi được khoản vay từ khách hàng. Khoản dự phòng rủi ro cho vay được trích lập này sau đó được thêm vào khoản mục dự phòng rủi ro cho vay nằm trên bảng cân đối kế toán.

Từ mục này người ta có thể tính toán giá trị ròng của các khoản vay sau khi lấy tổng dư nợ cho vay trừ đi giá trị dự phòng rủi ro như là những khoản tổn thất. Việc trích lập dự phòng rủi ro cho vay càng nhiều phản ánh chất lượng tài sản của ngân hàng đã suy giảm càng nghiêm trọng, rủi ro tín dụng càng cao. Để đo lường rủi ro tín dụng, các chỉ số như tỷ lệ dự phòng trên tổng dư nợ cho vay, tỷ lệ dự phòng trên tổng tài sản,. có thể được sử dụng.

Tại Việt Nam, theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 của NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì trích lập dự phòng sẽ gồm có dự phòng cụ thể và dự phòng chung: (i) Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể; (ii) Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể. Căn cứ vào số dư nợ, giá trị tài sản đảm bảo được khấu trừ, và nhóm nợ mà các khoản vay được trích lập dự phòng với giá trị tương ứng. Chất lượng tài sản càng giảm sút, rủi ro tín dụng càng cao thì dự phòng được trích lập càng nhiều. Công thức: Chỉ tiêu cho biết có bao nhiêu % dư nợ tín dụng được trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, chỉ tiêu này càng cao cho thấy chất lượng các khoản cho vay càng thấp và khả 12 năng thu hồi nợ càng giảm, báo hiệu rủi ro tín dụng càng cao; và ngược lại.

➢ Nợ xấu Nợ xấu là chỉ tiêu cơ bản phản ánh mức độ rủi ro tín dụng. Nợ xấu là những khoản vay khó hoặc không thể thu hồi. Nợ xấu phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết nhưng người đi vay không có khả năng thanh toán một phần hoặc toàn bộ khoản vay cho người cho vay. Theo IMF một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi, gốc từ 90 ngày hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, các khoản thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng chưa có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng thanh toán khoản vay được thanh toán đầy đủ.

Với ngành ngân hàng Việt Nam, Thông tư 11/2021/TT-NHNN của NHNN ngày 30/07/2021 của NHNN xác định nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ