CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOÀN THUẾ GTGT VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GTGT 1. Khái niệm, đặc điểm thuế GTGT 1. Sự ra đời của thuế GTGT ở Việt Nam Thuế GTGT (thuế giá trị gia tăng) tiếng Pháp là: Tax sur la Valuer Ajourtée (TVA), tiếng Anh là: Value Added Tax (VAT). Thuế GTGT có nguồn gốc thuế doanh thu và người đầu tiên đề xuất áp dụng loại thuế này là một nhà kinh tế người Đức tên là Carl Friedrich Vol Siemens nhằm khắc phục sự chồng chéo của thuế doanh thu từ năm 1918.
Tuy nhiên, nước đầu tiên trên thới giới áp dụng thuế GTGT là nước Pháp, luật thuế GTGT của nước này được ban hành ngày 10/04/1954 và nghị định hướng dẫn thi hành ngày 30/04/1955. Việc áp dụng thuế GTGT ở Pháp là kết quả của quá trình cải tổ hệ thống thuế mà trọng tâm là việc tăng cường và hoàn thiện các loại thuế gián thu. Ngày 11/04/1967, Hội đồng Bộ trưởng sáu nước thành viên ban đầu của Cộng đồng kinh tế Châu Âu đã có chỉ thị về việc hài hòa cân đối hệ thống thuế doanh thu của các nước thành viên và khuyến nghị các nước thành viên thống nhất thực hiện thuế GTGT trước ngày 01/01/1970. Theo quan điể m của Liên minh Châu Âu, thuế GTGT là mô ̣t loa ̣i thuế tiêu thu ̣ đươ ̣c áp du ̣ng chung, dựa trên giá tri ̣ tăng thêm của hàng hóa và dich ̣ vu ̣.
Nó đươ ̣c áp du ̣ng nhiề u hay ít với tấ t cả các loa ̣i hàng hóa và dich ̣ vu ̣ đươ ̣c mua, bán để sử du ̣ng hoă ̣c tiêu thu ̣ trong toàn Liên minh Châu Âu. Do đó, hàng hóa đươ ̣c bán để ̣ vu ̣ đươ ̣c bán cho khách hàng ở nước ngoài thường không phải xuấ t khẩ u hoă ̣c dich chiụ thuế GTGT. Ngươ ̣c la ̣i, hàng hóa nhâ ̣p khẩ u bi ̣ đánh thuế GTGT để giữ công bằ ng cho các nhà sản xuấ t EU, để ho ̣ có thể ca ̣nh tranh bình đẳ ng trên thi ̣ trường Châu Âu với các nhà cung cấ p nằ m ngoài Liên minh. Năm 1968, nước Đức chính thức áp dụng thuế GTGT để thay thế thuế doanh thu cũ nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi là thuế doanh thu.
Năm 1969, Hà Lan đưa luật thuế GTGT vào áp dụng. 8 Thái Lan áp dụng thuế GTGT kể từ ngày 01/01/1992. Thuế kinh doanh trước đây được áp dụng ở Thái Lan bị coi là phức tạp và phiền hà, chủ yếu tác động vào lĩnh vực sản xuất. Trong một số trường hợp, còn làm tăng giá thành hàng hóa lên đến xấp xỉ 35% đã làm hạn chế sức tiêu thụ và xuất khẩu của hàng hóa.
Sau khi áp dụng thuế GTGT thì hàng hóa Thái Lan đã có những lợi thế cạnh tranh rất lớn so với hàng hóa các nước khác trong khu vực. Nhìn chung, các quốc gia thuộc khối Liên minh châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La tinh và một số quốc gia châu Á đã áp dụng thuế GTGT. Tính đến nay, đã có khoảng hơn 130 quốc gia áp dụng thuế GTGT, các quốc gia khác cũng đang trong thời kỳ nghiên cứu loại thuế này. Trước khi thuế GTGT xuất hiện thì thuế doanh thu được các quốc gia trên thế giới áp dụng nhằm điều tiết tiêu dùng xã hội.
Tuy nhiên, trong doanh thu chịu thuế đã bao gồm cả thuế doanh thu ở khâu sản xuất, kinh doanh trước đó nên thuế doanh thu ở các khâu trước đã trở thành chi phí sản xuất, kinh doanh ở khâu sau. Quy định này, dẫn đến tình trạng thuế đánh trùng lên thuế, làm tăng giá vốn hàng hóa, dịch vụ, hàng hóa nội địa đã khiến người tiêu dùng phải chịu với mức giá cao đồng thời giảm tính cạnh tranh của hàng hóa, không kích thích được hàng hóa xuất khẩu. Nhược điểm trùng lặp thuế không còn phù hợp đối với nền kinh tế hiện đại. Thuế GTGT ra đời là sự thay thế hợp lý, mang tính tất yếu khách quan.
Tại Việt Nam, theo quan điể m của mô ̣t số ho ̣c giả, xét về bản chất, thuế GTGT là loại thuế gián thu. Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng thực chất người tiêu dùng lại là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ. Điều này giúp cho cơ quan quản lý thu thuế GTGT tránh được sự phản ánh gay gắt về thuế của đối tượng nộp thuế. Bên cạnh đó thuế GTGT cũng ảnh hưởng đến sức mua của công chúng do phần thuế này đã được cấu thành trong giá bán của hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng.
Từ những phân tích trên cho thấy việc áp dụng thuế GTGT tại các quốc gia cần phải cân nhắc tính phù hợp, những yếu tố ảnh hưởng của loại thuế này cho nền kinh tế và đời sống xã hội. 9 Xuất phát từ thực tế trên, tại Việt Nam thuế GTGT đã được nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bước 1 (1990) áp dụng thử nghiệm năm 1993 ở 11 đơn vị (ngành đường, dệt, xi măng), ban hành thành luật và được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá 9 ngày 10 tháng 5 năm 1997 để chính thức áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 1999, thay thế cho Thuế Doanh thu. Kể từ khi bắt đầu áp dụng cho tới nay, Luật Thuế GTGT đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế và lần sữa đổi, bổ sung gần đây nhất vào năm 2016. Như vậy, thuế GTGT thường được dùng để chỉ một loại thuế gián thu, đánh vào thu nhập của người tiêu dùng thông qua hành vi sử dụng hàng hoá, dịch vụ ở thị trường nội địa, tức đánh vào việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ mà cụ thể là đánh vào hành vi chuyển giao tài sản và cung cấp dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ.
Thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng phải chịu số thuế đó khi mua hàng hóa, dịch vụ. Với ưu điểm của thuế GTGT là Nhà nước chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lưu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh, nếu như không có các sự kiện biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lưu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hưởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được thuế chồng lên thuế. Khái niệm thuế GTGT Để nắm được khái niệm của thuế GTGT, trước hết ta cần hiểu thế nào là GTGT. GTGT là giá trị tăng thêm đối với một sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán hoặc dịch vụ tác động vào nguyên vật liệu thô hay hàng hoá mua vào làm cho giá trị của chúng tăng thêm.
Nói cách khác đây là số chênh lệch giữa “giá đầu vào” với “giá đầu ra” do đơn vị tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ. 10 Tại Việt Nam, Điều 1, Luật thuế GTGT 1997, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 quy định: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Vì đặc điểm chung của thuế GTGT ở Việt Nam là thuế GTGT dựa trên tiêu dùng, với phương pháp sử dụng chủ yếu là khấu trừ, cùng với nguyên tắc đánh thuế GTGT theo nơi đến. Vì vậy, khái niệm về thuế GTGT được quy định trong Luật thuế GTGT năm 1997 được tiếp tục sử dụng và quy định tại Điều 2, Luật thuế GTGT năm 2008.
Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Giá trị tăng thêm có thể được xác định theo nhiều phương thức tính khác nhau nhưng nguyên lý chung là bằng giá trị sản phẩm đầu ra (giá bán/doanh thu) trừ giá trị sản phẩm đầu vào (giá mua/chi phí), do bản chất của thuế GTGT là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên yếu tố đầu vào cũng giữ một vai trò quan trọng như yếu tố đầu ra. Nói cách khác, thuế GTGT đưa ra những khái niệm mới so với thuế doanh thu là khấu trừ và hoàn thuế. Các quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng là những mắt xích gắn kết với nhau rất chặt chẽ.
Nhà phân phối mua sản phẩm của nhà sản xuất rồi bán lại cho người tiêu dùng sẽ được khấu trừ thuế đầu vào nhưng phải nộp thuế đầu ra. Điều này có nghĩa là nhà phân phối chỉ phải chịu khoản thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm ở khâu phân phối. Trước đó, nhà sản xuất chắc chắn đã phải nộp khoản thuế GTGT cho sản phẩm đầu ra bán cho nhà phân phối. Khoản thuế này (thuế GTGT) là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập cũng chính là khoản thuế mà nhà phân phối được Chính phủ hoàn lại.
Người tiêu dùng mua hàng để sử dụng cuối cùng sẽ không được hoàn thuế GTGT đầu vào. Khoản thuế GTGT đầu vào của người tiêu dùng cũng chính là khoản thuế GTGT mà nhà phân phối phải nộp cho Chính phủ. Theo cách tư duy mắt xích như vậy thì người tiêu dùng cuối cùng mới chính là người phải gánh chịu khoản thuế GTGT, trong khi đó nhà phân phối và nhà sản xuất chỉ là người “nộp thay” khoản thuế này cho người tiêu dùng và sau đó được 11 Chính phủ hoàn lại. Cũng theo cách suy luận như vậy thì thuế GTGT cũng tương tự như thuế doanh thu đánh vào khâu bán lẻ HHDV xét ở phương diện giá trị.
Như vậy, thuế GTGT được coi là một loại thuế tiêu dùng và là thuế gián thu nhằm đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nhưng được thu ở khâu bán hàng. Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng mới là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ. Nói một cách khác, thuế GTGT là sắc thuế áp dụng đối với giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở tất cả các khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đặc biệt, thuế GTGT đánh vào khâu cuối cùng (khâu tiêu dùng) sẽ bằng tổng giá trị các lần đánh thuế của các khâu trước đó.