LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Hoàn thiện chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính (DVTC) trở nên cần thiết vì những lý do sau đây: Thứ nhất, DVTC đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, nhằm thúc đẩy đầu tƣ, tiết kiệm, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề khác trong xã hội. Những đặc trƣng vốn có của DVTC đã chi phối cách thức quản lý, điều tiết của nhà nƣớc đối với loại hình dịch vụ này. Dƣới góc độ lý thuyết vẫn đặt ra các câu hỏi là nên đánh thuế đối với loại hình DVTC nào? cách thức đánh thuế ra sao? làm thế nào để quản lý thuế đối với DVTC một cách hiệu quả nhất.
Chính vì thế, tiếp tục làm sáng tỏ cơ sở lý luận cũng nhƣ nghiên cứu kinh nghiệm liên quan nhằm nắm bắt xu thế, hoàn thiện chính sách thuế đối với các DVTC là rất cần thiết. Thứ hai, tại Việt Nam, DVTC phát triển ngày một phong phú cả về các loại hình DVTC, gia tăng về số lƣợng các chủ thể cung cấp DVTC. Chính sách thuế đối với các DVTC dù đƣợc sửa đổi, hƣớng dẫn chi tiết ở một số lĩnh vực, nhƣng vẫn tồn tại một số bất cập, hạn chế. Chẳng hạn, nhiều DVTC thuộc đối tƣợng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) nên không phát sinh thuế GTGT đầu ra, dẫn đến thuế đầu vào không đƣợc khấu trừ.
Hoặc chính sách thuế với hoạt cung cấp DVTC qua biên giới, trong nhiều trƣờng hợp, chủ thể cung cấp không có hiện diện thƣơng mại tại Việt Nam. Nếu xảy ra tổn thất hoặc tranh chấp thì quyền lợi khách hàng ở Việt Nam có thể không đƣợc bảo đảm; các doanh nghiệp trong nƣớc rất khó đánh giá đầy đủ về đối thủ cạnh tranh; nhà nƣớc gặp khó khăn trong việc quản lý, giám sát và thu thuế. Để tránh thất thoát thuế và quy định chính sách thuế phù hợp hơn, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế với lĩnh vực DVTC. Thứ ba, sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), thực hiện cam kết về 11 ngành dịch vụ bao gồm cả DVTC đã đặt ra nhiều thách thức, chẳng hạn nhƣ giảm thuế mà không tác động đến sản xuất và hội nhập tài chính sâu rộng.
Quá trình thực hiện quá trình tái cấu trúc 2 lĩnh vực tài chính cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện chính sách thuế phù hợp với tính chất, đặc thù của lĩnh vực DVTC. Chính sách thuế vừa phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc (NSNN), vừa phải tạo một hành lang pháp lý ổn định và phù hợp cho sự phát triển của các DVTC. Thứ ba, các nghiên cứu tiêu biểu về thuế đối với DVTC, cả trong và ngoài nƣớc đã có những đóng góp lớn trong việc hình thành và tạo dựng cơ sở lý luận về thuế đối với các DVTC. Nhƣng các nghiên cứu dƣờng nhƣ bỏ qua những xu thế phổ biến về hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng; quá trình tái cấu trúc các tổ chức tài chính cũng nhƣ ảnh hƣởng của nó đến chính sách thuế v.
Điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu để hình thành khung lý thuyết nhất quán, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách thuế đối với DVTC cũng nhƣ các giải pháp nhằm vận hành có hiệu quả hoạt động DVTC và đảm bảo nguồn thu NSNN cũng nhƣ đảm bảo cơ cấu thu bền vững. Với những lý do trên đây, việc triển khai nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở Việt Nam” là hết sức cần thiết. Tổng quan nghiên cứu 2. Tổng quan nghiên cứu nƣớc ngoài Từ trƣớc năm 2000, nhiều nghiên cứu nƣớc ngoài về thuế đối với lĩnh vực tài chính tập trung vào việc xác định “thuế tối ƣu” nhằm xác định khả năng thu thuế cho nhà nƣớc hiệu quả nhất và tính toán ảnh hƣởng của thuế đến sự biến động giá, hành vi của tổ chức, cá nhân đầu tƣ tài chính hoặc gửi tiền vào ngân hàng nhƣ các nghiên cứu của Granville (1994), Broadway & Keen (1995), Brock (1997), Honohan (1994 & 1996), Jappelli và Pistaferri (1996), Caminal (1998).
Sau năm 2000, các chính sách ƣu đãi thuế cho lĩnh vực tài chính lại đƣợc quan tâm nhiều hơn, nó đặt ra các câu hỏi về việc liệu thuế có bóp méo cạnh tranh hoặc gây ra các đối xử không công bằng về thuế giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế? Cùng với đó, chủ đề về chính sách thuế đối với các hoạt động trên TTTC ở các nƣớc phát 3 triển, đang phát triển cũng đƣợc đề cập nhiều trong các nghiên cứu của Levin & Ritter (2007), Sunley (2008), Poddar (2010). Thứ nhất: vấn đề “thuế tối ƣu” đối với lĩnh vực tài chính Lý thuyết “thuế tối ƣu” đƣợc đề xuất áp dụng đối với thuế vốn và thuế hoạt động tài chính. Các tác giả Boadway & Keen (1995) đã đánh giá những hiệu quả chính từ việc cải cách thuế đối với các hoạt động trên TTTC. Quan điểm xuyên suốt nghiên cứu này luôn xem thuế đối với khu vực tài chính là một cấu phần không thể tách rời trong một hệ thống thuế tối ƣu nhằm mục đích gia tăng thu NSNN.
Đề cập đến ảnh hƣởng của thuế tối ƣu đến ngân sách của nhà nƣớc, Caminal (1998) đã đề xuất một mô hình dự báo tác động của các hình thức thuế khác nhau đối với lĩnh vực ngân hàng đến trạng thái cân bằng ngân sách. Theo đó, chính sách thuế khuyến khích tiết kiệm sẽ tác động trực tiếp tới các trung gian tài chính. Các doanh nghiệp khi thực hiện những dự án rủi ro cao thƣờng ƣa thích khoản tín dụng đầy đủ thông tin (vay ngân hàng) hơn là các hình thức tín dụng thiếu thông tin (thƣơng phiếu) hay tiếp cận vốn từ TTCK. Nghiên cứu của Caminal đƣa ra các kết luận: (i) Thuế đối với tiền gửi: thuế tiền gửi không tác động tới lãi suất cho vay hoặc huy động trong điều kiện nhất định.
Nhƣng nó có xu hƣớng làm giảm quy mô tiền gửi và khuyến khích các hình thức đầu tƣ khác. Tuy nhiên, ở một mức thuế suất nhỏ sẽ không tạo ra biến dạng nào đối với quyết định tiết kiệm. Thuế tiền gửi cũng tạo ra sức ép khiến ngân hàng phải lựa chọn đầu tƣ vào các danh mục có rủi ro cao hơn. (ii) Thuế đánh vào khoản cho vay của ngân hàng: làm giảm lƣu lƣợng cho vay và tạo ra xu hƣớng chuyển hƣớng huy động vốn trên TTCK và các kênh huy động khác.
Nếu TTCK hoạt động hiệu quả thì tốc độ giảm cũng nhanh chóng hơn. Ở những quốc gia mà ngân hàng cạnh tranh độc quyền trong thị trƣờng vốn thì thuế đánh trên khoản vay ngân hàng có thể do chủ sở hữu ngân hàng chịu. (iii) Thuế thu nhập vốn: làm giảm lƣợng tiền gửi do khả năng nhà đầu tƣ (NĐT) sẵn sàng trả phí cho các dịch vụ ngân hàng gia tăng theo thu nhập khả dụng của họ. 4 Loại thuế này cũng làm tăng khoảng cách giữa lợi ích cận biên của đầu tƣ và tiết kiệm.
Trong khoảng thời gian đó, Jappelli và Pistaferri (1996) đã nghiên cứu và phát hiện ra hiệu quả của chính sách thuế khuyến khích tiết kiệm và chứng minh thực nghiệm tại một số nƣớc cụ thể. Nghiên cứu “Ƣu đãi thuế đối với tiết kiệm và cho vay hộ gia đình” tìm hiểu những động lực chính khuyến khích tiết kiệm hộ gia đình. Nghiên cứu đã đƣa ra 2 luận cứ cho việc khuyến khích tiết kiệm: (i) Tại các nền kinh tế “đóng” hoặc bị hạn chế tự do hoá di chuyển dòng vốn, tiết kiệm tăng sẽ giúp tăng cƣờng vốn đầu tƣ cho sản xuất kinh doanh (SXKD), tạo động lực cho phát triển kinh tế. (ii) Phát triển quỹ hƣu trí và bảo hiểm nhân thọ, có thể mang lại tác động tích cực tới sự đa dạng và hiệu quả của hệ thống tài chính.
Ngƣợc lại với lý thuyết, sự đồng thuận trong thực tế khá thấp. Bởi lẽ, Nhà nƣớc áp dụng ƣu đãi thuế để khuyến khích tiết kiệm, quỹ hƣu trí tự nguyện hay các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thông qua việc miễn thuế cho lãi tiền gửi tiết kiệm, miễn thuế đối với các khoản tiền phí tích lũy hoặc bảo tức thì quyết định tiết kiệm cuối cùng vẫn tuỳ vào ý chí của cá nhân, hộ gia đình bởi họ phải đối mặt với bài toán cơ cấu tiêu dùng và tiết kiệm. Ở các nƣớc đang phát triển, thông thƣờng những ngƣời thuộc cận trên của phân phối thu nhập mới có điều kiện về nguồn lực tài chính và thông tin để tận dụng đƣợc ƣu đãi trong khi những ngƣời còn lại thì không. Chƣa kể đến là trong thực tế không phải loại thuế nào cũng đạt đƣợc tính trung lập kinh tế.
Ƣu đãi thuế cũng làm giảm thu NSNN. Trong nhiều trƣờng hợp, thay vì khuyến khích, Nhà nƣớc đã áp dụng chƣơng trình hƣu trí bắt buộc chứ không ƣu tiên sử dụng chính sách thuế cho mục tiêu thúc đẩy tiết kiệm tự nguyện. Nghiên cứu của Jappelli & Pistaferri tổng kết lại bằng một thực tế tại các nƣớc đang phát triển, chi phí giao dịch tài chính thƣờng rất cao. Chi phí này chứa đựng phí "làm luật " - mà tại nhiều quốc gia chúng đƣợc gọi là một loại thuế giao dịch "ẩn danh" (Djankov et al.
Điều này hàm ý rằng lợi tức và ƣu đãi thuế 5 đối với tiết kiệm có thể đƣợc cải thiện bằng cách tạo lập môi trƣờng kinh doanh thực sự cạnh tranh và hiệu quả mà không cần dùng đến các công cụ thuế. Thứ hai, nghiên cứu về từng loại thuế cụ thể đối với lĩnh vực tài chính Nghiên cứu từng sắc thuế hoặc loại thuế đối với hoạt động DVTC, có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả Honoban (1994), Kirilenko & Summers (2006), Sunley (2008), Habermeier & Kirilenko (2008), Poddar (2010). * Thuế giao dịch chứng khoán: bàn về tác động của thuế giao dịch chứng khoán đối với TTTC, nghiên cứu của Habermeier và Kirilenko (2008) luận giải về cách thức những khoản thuế giao dịch chứng khoán dù rất nhỏ vẫn có khả năng tác động tới khối lƣợng giao dịch công cụ tài chính có liên quan. Một số kết luận quan trọng nhƣ: (i) Trên thị trƣờng bán buôn, hoạt động giao dịch có thể tạo thuận lợi cho việc củng cố thanh khoản, nhận định giá và bình ổn giá.
Nếu NĐT không thể thực hiện đƣợc giao dịch mong muốn, nguồn lực không thể đƣợc phân bổ, sử dụng một cách tối ƣu. (ii) Áp dụng thuế giao dịch chứng khoán càng làm tăng biến động giá giao dịch. Biến động giá đƣợc giải thích thông qua sự thay đổi của: thông tin công bố, thông tin riêng tƣ, chi phí giao dịch và những rào cản thị trƣờng khác.