Chương 1, Điều 1, khoản 2,: “Theo mục tiêu của Công ước này, “Hợp đồng bao thanh toán” có nghĩa là một hợp đồng bao gồm một bên (bên cung cấp hàng) và một bên khác (bên bao thanh toán) tuân thủ: (a) Người cung cấp hàng có thể hoặc sẽ chuyển nhượng cho nhà bao thanh toán khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên bán hàng và người mua hàng của bên bán (con nợ), chứ không phải là những người mua hàng để sử dụng cho cá nhân và hộ gia đình. (b) Bên bao thanh toán phải thực hiện ít nhất hai trong những chức năng sau: - Tài trợ cho người bán, bao gồm khoản vay và khoản ứng trước; - Theo dõi công nợ (giữ sổ cái) liên quan đến khoản phải thu; - Thu tiền từ các khoản phải thu; - Bảo vệ người bán trước trường hợp người mua không thanh toán. (c) Thông báo chuyển nhượng phải được đưa ra bằng văn bản cho con nợ biết. Như vậy chúng ta có thể hiểu về bao thanh toán thông qua những nội dung của công ước này là: Bao thanh toán là dịch vụ do nhà bao thanh toán cung cấp dựa trên hợp đồng mua bán giữa hai bên mua và bên bán, theo đó khi phát huy vai trò của mình, bên bao thanh toán phải thực hiện ít nhất hai trong bốn chức năng nêu trên.
- Theo Tổ chức Bao thanh toán quốc tế - FCI (Factors Chain International): Phần 1, điều 1, Qui định chung về Bao thanh toán quốc tế (GRIF), phiên bản tháng 6, 2005: Hợp đồng bao thanh toán có nghĩa là một hợp đồng mà nó tuân theo điều sau: người bán hàng có thể hoặc sẽ chuyển nhượng khoản phải thu cho nhà bao thanh toán, vì mục đích là để nhận khoản tài trợ hay không, nhưng tốt thiểu phải có một trong những chức năng: Quản trị sổ cái các khoản phải thu; Thu tiền từ các khoản phải thu; Bảo vệ chống lại các khoản nợ xấu. Theo khái niệm hợp đồng bao thanh toán này, chúng ta có thể hiểu: Bao thanh toán là một dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu Luận văn thạc sĩ GVHD: TS.Nguyễn Thị Thúy Vân HVTH: Phạm Xuân Hùng 123doc Trang 11 hộ. Đó là sự thỏa thuận giữa đơn vị bao thanh toán (factor) và người bán hàng (seller). Đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua (buyer) hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng (debtor).
- Định nghĩa thuần túy nhất ở Mỹ đã định nghĩa nghiệp vụ BTT một cách truyền thống như sau: BTT là một thoả thuận tiếp theo giữa bên liên quan đến BTT và người bán hàng hay là người cung cấp dịch vụ về mở một tài khoản, chiếu theo đó bên BTT tiến hành tất cả những dịch vụ liên quan đến tài khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hóa dịch vụ như: + Mua lại tất cả những khoản phải thu và nếu cần thiết thì ứng trước tiền mặt dựa trên các khoản phải thu này trước khi thu nợ. + Duy trì ghi sổ cái và thực hiện các nhiệm vụ ghi sổ sách khác liên quan khoản phải thu này. + Thu nợ các khoản phải thu này. + Dự tính các tổn thất có thể xảy ra khi tình hình tài chính của khách hàng không thể trả được nợ (tổn thất tín dụng).
Các khoản phải thu có thể được mua bán trên cơ sở “không có quyền truy đòi”, do đó bên BTT dự tính rủi ro tổn thất có thể xảy ra do không có khả năng về mặt tài chính của khách hàng hay trên cơ sở “có quyền truy đòi” trong đó khách hàng của BTT chịu phần rủi ro này. Dịch vụ bao thanh toán thông thường sẽ có sự xuất hiện của ít nhất ba bên: 1. Tổ chức bao thanh toán (factor): là ngân hàng, công ty tài chính chuyên thực hiện việc mua bán nợ và các dịch vụ khác liên quan đến mua bán nợ. Trong nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế sẽ có hai đơn vị bao thanh toán, một đơn vị bao thanh toán tại nước của nhà xuất khẩu và một đơn vị bao thanh toán tại nước của nhà nhập khẩu.
Người bán hay nhà xuất khẩu (seller, exporter): các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hoặc kinh doanh dịch vụ có những khoản nợ của khách hàng nhưng chưa đến hạn thanh toán. Người mua hàng (người mắc nợ) hay nhà nhập khẩu (buyer, debtor, importer): hay còn gọi là người phải trả tiền, đó chính là người mua hàng hóa hay nhận các dịch vụ cung ứng. Nhìn chung nghiệp vụ bao thanh toán chính là hình thức tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn (trong ngắn hạn) từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, gần như là hoạt động mua bán nợ. Hay nói một cách khác, dưới góc độ hoạt động của NHTM, BTT là việc cấp tín dụng cho Luận văn thạc sĩ GVHD: TS.Nguyễn Thị Thúy Vân HVTH: Phạm Xuân Hùng 123doc Trang 12 khách hàng là bên bán thông qua việc mua lại các khoản phải thu của bên bán hàng phát sinh từ việc mua bán đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Như vậy, đơn vị BTT làm chức năng là một đơn vị chấp thuận tín dụng đồng thời là một đơn vị cung cấp tài chính. Các loại hình bao thanh toán: * Theo phạm vi thực hiện: - Bao thanh toán trong nước: là hình thức cấp tín dụng của một NHTM hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó, bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú trong phạm vi một quốc gia. * Quy trình thực hiện: (1 ) Ng−êi b¸n Ng−êi m ua (K h ¸ c h h μ n g ) (6 ) (C o n n î ) (2 ) (4 ) (5 ) (7 ) (8 ) (1 1 ) (3 ) (9 ) (1 0 ) § ¬ n v Þ b a o th a n h to ¸ n (1) Người bán và người mua tiến hành thương lượng và ký hợp đồng mua bán hàng hóa. (2) Người bán đề nghị đơn vị bao thanh toán tài trợ với tài sản bảo đảm chính là khoản phải thu trong tương lai từ hợp đồng mua bán hàng hóa.
(3) Đơn vị bao thanh toán thẩm định khả năng thanh toán tiền hàng của người mua. (4) Nếu xét thấy có thể thu được tiền hàng từ người mua theo đúng hạn hợp đồng mua bán, đơn vị bao thanh toán sẽ thông báo đồng ý tài trợ cho người bán. (5) Đơn vị bao thanh toán và người bán thỏa thuận và ký kết hợp đồng bao thanh toán. (6) Người bán giao hàng cho người mua theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
(7) Người bán chuyển nhượng hóa đơn, chứng từ bán hàng và các chứng từ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán. (8) Đơn vị bao thanh toán ứng trước một phần tiền cho người bán theo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán. (9) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán tiến hành thu hồi nợ từ người mua. Luận văn thạc sĩ GVHD: TS.Nguyễn Thị Thúy Vân HVTH: Phạm Xuân Hùng 123doc Trang 13 (10) Người mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán.
(11) Sau khi đã thu hồi tiền hàng từ phía người mua, đơn vị bao thanh toán thanh toán nốt tiền chuyển nhượng khoản phải thu cho người bán. - Bao thanh toán xuất nhập khẩu: là hình thức cấp tín dụng của NHTM hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, mà việc mua bán hàng hóa vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia. * Quy trình thực hiện: (1) Nhà XK Nhà NK (7) (Người Bán) (Người mua) (2) (5) (6) (8) (9) (13) (4) (10) (11) (3) (5) Đơn vị BTT (8) Đơn vị BTT XK (12) NK (1) Người bán và người mua tiến hành thương lượng và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa. (2) Người bán đề nghị đơn vị bao thanh toán xuất khẩu tài trợ với tài sản đảm bảo chính là khoản phải thu trong tương lai từ hợp đồng mua bán hàng hóa.
(3) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu đề nghị đơn vị bao thanh toán nhập khẩu cùng thực hiện hợp đồng bao thanh toán. (4) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thực hiện phân tích các khoản phải thu, tình hình hoạt động và khả năng tài chính của bên mua hàng. (5) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu đồng ý tham gia giao dịch bao thanh toán với đơn vị bao thanh toán xuất khẩu. Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chấp thuận tài trợ cho người bán.
(6) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và người bán thỏa thuận và ký kết hợp đồng bao thanh toán. (7) Người bán giao hàng cho người mua theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa. (8) Đơn vị xuất khẩu chuyển nhượng hóa đơn cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển nhượng hóa đơn cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu. (9) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển tiền ứng trước cho người bán theo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán.
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS.Nguyễn Thị Thúy Vân HVTH: Phạm Xuân Hùng 123doc Trang 14 (10) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu tiến hành thu hồi nợ từ người mua. (11) Người mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu. (12) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu trích trừ phí và lãi (nếu có) rồi chuyển số tiền còn lại cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu. (13) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu trích trừ phí rồi chuyển số tiền còn lại cho người bán.
* Theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro: - Bao thanh toán có quyền truy đòi (recourse factoring): là hình thức BTT mà đơn vị thực hiện BTT có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu.