Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra thuế Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế tại CCT quận Tân Bình Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra thuế tại CCT quận Tân Bình 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA THUẾ 1.1 Các lý luận cơ bản về kiểm tra thuế 1.1 Khái niệm về kiểm tra thuế Theo Michel Bouvier (2005) cho rằng: kiểm tra thuế là hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà NNT đã kê khai. [2] Học viện Tài chính (2003) định nghĩa: kiểm tra thuế là hoạt động của CQT trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá. [1] Tổng cục Thuế (năm 2010), kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế – xã hội. Kiểm tra thuế là một trong các chức năng cơ bản của cơ quan quản lý thuế nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm cho NNT luôn ý thức rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế.
Nguyễn Ngọc Hùng (năm 2006): kiểm tra thuế là việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá. Đây là một công việc mang tính chất thường xuyên, đều đặn. Đối tượng được kiểm tra là những ĐTNT, những người làm công tác thuế (công chức thuế); nhằm giám sát những hoạt động của họ trong việc chấp hành các luật thuế, nghĩa vụ nộp ngân sách và thực hiện công tác quản lý, hành thu, kiểm tra của cán bộ thuế. [3] Theo tác giả, sau khi tổng hợp các ý kiến trên có thể hiểu rằng: kiểm tra thuế là việc CQT giám sát, xem xét, đánh giá tình hình hoạt động thực tế của các đối tượng được kiểm tra (gồm ĐTNT và những người làm công tác thuế) để có các biện 5 pháp xử lý thích hợp nhằm chống thất thu, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế.2 Mục tiêu của kiểm tra thuế Tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế của NNT nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế.
Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của NNT trong việc thực hiện kê khai thuế, nộp thuế. Hướng dẫn, giúp đỡ ĐTNT nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế; đồng thời nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ, tránh gây phiền hà cho NNT thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ thuế. Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra, CQT các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn. Thông qua công tác nội bộ nhằm kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa những hành vi tiêu cực, tham nhũng phát sinh, để xây dựng CQT trong sạch vững mạnh với đội ngũ cán bộ thuế về phẩm chất đạo đức, giỏi về nghiệp vụ chuyên môn.3 Ý nghĩa kiểm tra thuế Tăng cường công tác kiểm tra thuế được xem là một biện pháp cực kỳ quan trọng để nhà nước ngày càng được củng cố và lớn mạnh.
Thông qua hoạt động kiểm tra, nhằm giáo dục, bồi dưỡng, phát huy nhiệt tình cách mạng, những phẩm chất tốt, năng lực mới; đồng thời ngăn chặn, xử lý nghiêm khắc, kịp thời những hiện tượng tiêu cực, những kẻ phá hoại, vô trách nhiệm, vô kỷ luật, góp phần củng cố, tăng cuờng kỷ cương, kỷ luật tài chính để đảm bảo cho nguồn thu NSNN được ổn định, vững chắc. [3] 6 Góp phần tạo cơ sở cho việc chỉnh lý, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách thuế và công tác quản lý thuế phù hợp với tình hình phát triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh, nền kinh tế - xã hội và ngày càng hiệu quả hơn. [3] Bộ máy của cơ quan thuế được phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể hơn. Từ đó sẽ gắn trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thuế các cấp và cán bộ thuế trong việc quản lý thu thuế, kiểm tra quyết toán thuế của cơ sở kinh doanh, đồng thời ngăn chặn hiện tượng tiêu cực trong công tác kiểm tra thuế tại cơ sở kinh doanh.
Bởi vì, khi một cán bộ thuế nào đó áp dụng sai quy trình kiểm tra để rồi kết luận, kiến nghị hoặc xử lý vi phạm không đúng quy định, gây hậu quả thất thu thuế cho NSNN hoặc thiệt hại đến quyền lợi của cơ sở kinh doanh thì bị xử lý theo chế độ quy định. Quy trình kiểm tra nhằm giám sát được việc làm của cán bộ làm công tác kiểm tra ĐTNT, tránh được sự tùy tiện của cán bộ.4 Nguyên tắc kiểm tra thuế Kiểm tra thuế phải trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế [8]. Chẳng hạn như xem xét về thuế suất hàng hóa bán ra của DN có đúng với quy định pháp luật thuế hay không - thông qua tờ khai hàng tháng DN nộp tại CQT và các quy định về thuế suất có liên quan,.từ đó đánh giá được ý thức chấp hành pháp luật của NNT. Không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là NNT [8].
Khi cán bộ kiểm tra thuế kiểm tra tại cơ sở kinh doanh của NNT được yêu cầu NNT cung cấp các hồ sơ, tài liệu liên quan đến vấn đề cần kiểm tra, nhưng không được làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của NNT, bảo đảm NNT vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, tạo lợi ích cho nền kinh tế - xã hội. Tuân thủ quy định của Luật quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan [8], như: các quy định của Bộ tài chính, Thủ tướng Chính phủ,.5 Đặc điểm cơ bản của kiểm tra thuế Kiểm tra thuế rất rộng về đối tượng, phạm vi và lĩnh vực ngành nghề. Tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của các tổ chức và cá nhân trên mọi lĩnh vực, ngành nghề đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế. Đặc điểm này chi phối trình độ chuyên sâu, chuyên nghiệp của cán bộ làm công tác kiểm tra thuế; và chi phối phương pháp, kỹ năng, kỹ thuật kiểm tra thuế.
Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp khác với kiểm tra thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. Hộ kinh doanh cá thể hình thức nộp thuế là thuế khoán. Thường định kỳ vào đầu mỗi năm các cán bộ thuế kiểm tra đánh giá lại tình hình, quy mô kinh doanh của các hộ kinh doanh cá thể để ấn định mức doanh thu phù hợp. Đa số các hộ kinh doanh cá thể đều không thực hiện chế độ sổ sách kế toán một cách đầy đủ.
Do đó, việc ấn định thuế là cần thiết, nhưng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn nếu cơ sở không hợp tác hay ý thức hợp tác kém. Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp đòi hỏi trình độ của cán bộ kiểm tra phải chuyên sâu, có nghiệp vụ kiểm tra tốt vì hiện nay các công ty kê khai theo hình thức tự khai tự nộp và thực hiện chế độ sổ sách kế toán theo quy định. Cho nên, nếu công ty có ý thức kém, kê khai thuế không đầy đủ, nhưng các bộ kiểm tra có nghiệp vụ không giỏi sẽ dẫn đến việc thất thu thuế, đồng thời ảnh hưởng đến bộ mặt của cơ quan thuế. Kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với NNT.
Đặc điểm này chi phối đạo đức nghề nghiệp, văn hoá ứng xử, tác phong mẫu mực của cán bộ làm công tác kiểm tra thuế. Mặt khác hoạt động kiểm tra NNT trong cơ chế thị trường vừa phải đối mặt với những cám dỗ, cạm bẫy dễ sa ngã; đồng thời phải đối đầu với sức ép, áp lực khác nhau, thậm chí ảnh hưởng đến danh dự và tính mạng của người làm công tác kiểm tra thuế. Đây là một đặc điểm ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, tình cảm, hành vi công vụ của cán bộ kiểm tra thuế; đến hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra NNT; đến uy tín và danh dự của ngành thuế.2 Các hình thức và nội dung về kiểm tra thuế 1.1 Các hình thức kiểm tra thuế 1.1 Phân loại theo thời gian Nếu phân loại theo thời gian thì kiểm tra thuế được chia làm 2 loại: Kiểm tra thƣờng xuyên Kiểm tra thường xuyên là việc kiểm tra thuế theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt. Căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, CQT xây dựng kế hoạch kiểm tra và trình cấp thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế được phê duyệt.
[8] Kiểm tra đột xuất Kiểm tra thuế đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế; theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan thuế quyết định.2 Phân loại theo phạm vi kiểm tra thuế Theo tiêu thức này, kiểm tra thuế được chia thành hai loại là kiểm tra toàn diện và kiểm tra hạn chế. Kiểm tra toàn diện Kiểm tra toàn diện: là loại hình kiểm tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuân thủ pháp luật thuế của DN mà DN đó có nghĩa vụ thực hiện và ngành thuế có trách nhiệm quản lý. Kiểm tra toàn diện là hình thức kiểm tra được tiến hành một cách đồng bộ đối với tất cả các sắc thuế: TNDN, GTGT, TTĐB và các loại thuế khác trong kỳ kê khai thuế. Kiểm tra toàn diện thường chỉ được thực hiện đối với một hoặc hai kỳ kê khai thuế gần nhất, trừ trường hợp phát hiện NNT có dấu hiệu không tuân thủ có giá trị lớn.