Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoàn thuế giá tri gia ting. Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý hoàn thuế Giá tri gia tăng tại Cục Thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản lý hoàn thuế Giá trị gia tăng tại Cục Thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. CHUONG 1: CO SO LY LUAN VA THUC TIEN VE QUAN LY HOAN THUE GIA TRI GIA TANG Nguồn gốc của thuế giá trị gia tăng là từ thuế doanh thu và Luật thuế giá trị gia tăng được ban hành đầu tiên trên thế giới tại nước Cộng hoà Pháp.
Vào năm 1954, thuế GTGT được nghĩ ra bởi nhà kinh tế học người Pháp (Maurice Lauré), lần đầu áp dụng đối với các doanh nghiệp lớn, sau đó mở rộng ra áp dụng toàn lãnh. thổ nước Pháp để thay thế thuế sản xuất và một vải sắc thuế gián thu khác. Thuế là một khoản phí mà người dân phải nộp bắt buộc cho chính phủ mà không phải trả lại trực tiép cho NNT (Parameswaran, 2005). Các chính phủ đánh thuế vì nhiều mục đích, nhưng chủ yếu là gây quỹ để trang trải các khoản chỉ tiêu công và mặt khác để phân bỏ các nguồn lực một cách hợp lý.
Thuế là nguồn thu chính của chính phủ (Beza, 2014). Mục tiêu cơ bản của thuế là chuyển các nguồn lực từ nhóm này sang nhóm khác để đạt được các mục tiêu phát triển nhất định mà không gây nguy hại đến các. mục tiêu kinh tế. Công bằng trong thuế có cả thành phần theo chiều ngang và chiều đọc.
Công bằng theo chiều ngang thể hiện khi có sự đối xử bình đẳng vẻ thuế đối với những người nộp thuế có khả năng nộp thuế ngang nhau. Công bằng theo chiều dọc liên quan đến mối quan hệ thích hợp giữa gánh nặng thuế tương đối do các cá nhân có năng lực nộp thuế khác nhau phải trả. Không có công thức nào để thiết lập. mức độ lũy tiến thích hợp của việc đánh thuế.
Nó phụ thuộc vào các yếu tố như mức độ đoàn kết giữa các cá nhân trong xã hội hoặc mức độ trốn tránh của những người nhận chuyển giao tiềm năng. Từ quan điểm này là cần thiết dé luôn so sánh và kiểm. tra các nhóm người nộp thuế giống nhau. “Theo truyền thống, thuế được phân loại là trực tiếp (thuế TNCN, thuế thu nhập.
doanh nghiệp và thu nhập khác và thuế vốn) hoặc gián tiếp (GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, các loại thuế khác đối với sản phẩm và sản xuất). Nói chung, nhóm đầu tiên cho phép phân phối lại nhiều hơn vì không thực tế khi đưa ra tính lũy. thué gidn thu (Musgrave va Thin, 1948). Do dé, việc truy đòi thuế trực thu, vốn dễ “nhìn thấy” hơn, có xu hướng lớn hơn ở các quốc gia nơi mục tiêu phân bỏ lại thuế.
rõ rằng hơn; điều này thường dẫn đến mức thuế TNCN cao hơn. Trong khi các nha hoạch định chính sách không thé di chỉnh trực tiếp gánh nặng thuế của thu nhập, nhưng họ có thê cải cách các yêu tô luật định của hệ thông thuế, cuối cùng xác định. mức thuế trung bình và thuế cận biên (Torres và cộng sự, 2012). Thuế giá trị gia tăng.
Khái Năm mươi năm trước, thuế GTGT hiếm khi được nghe thấy bên ngoài nước. Pháp và một số cuốn số tay chuyên ngành. Ngày nay, nó được tim thấy ở hơn 130 quốc gia, nơi thường tăng 20% hoặc hơn tắt cả các khoản thu từ thuế. rộng rãi ở khu vực cận Sahara, Châu Phi và các nơi khác, nó đã trở thành trọng tâm của cải cách thuế ở nhiều quốc gia đang phát triển.
Theo bắt kỳ tiêu chuẩn nào, việc. tăng thuế GTGT là sự phát triển đáng kể nhất trong chính sách thuế và quản lý thuế. trong những thập kỷ gần đây. GTGT là loại thuế đánh vào sự gia tăng giá trị của hàng hóa và dịch vụ ở mỗi giai đoạn sản xuất và tuần hoàn, và nhìn từ khía cạnh khác như thuế đánh vào tiêu dùng được đánh vào mọi giai đoạn của phiên kinh tế, và được áp dụng theo quy định nói cách khác, lượng tiêu thụ gây ra.
Hay nói cách khác, thuế GTGT là loại thuế đánh vào nhiều giai đoạn ở mỗi giai đoạn của chuỗi giá trị gia tăng, với điều khoản cho phép khấu trừ thuế đầu vào đối với khoản thuế đã nộp. ở giai đoạn trước, khoản thuế này có thể được khấu trừ vào nghĩa vụ thuế GTGT khi ban hang tiép theo. Thué GTGT nhim danh thuế mọi công đoạn bán hàng trong đó một số giá trị được thêm vào nguyên liệu thô, nhưng NNT sẽ nhận được khoản khấu trừ thuế đã trả cho các công đoạn mua sắm. Lược sử thuế giá trị gia tăng.
Doanh nhân người Đức Wilhelm Von Siemens được cho là người đưa ra ý tưởng về thuế GTGT vào những năm 1920 (Liam Ebril và cộng sự, 2001). Điều chỉ Tà ý tưởng kể từ đó đã được xây dựng thành một hệ thống bởi người được gọi là cha đẻ của VAT, Mauriee Lauré, người khi đó là công ty kinh doanh giám đốc các cơ quan thuế của Pháp. Thuế GTGT được thực hiện ở Pháp vào năm 1954. Thuế GTGT cấp sản xuất đã được áp dụng ngay sau đó ở Côte d'lvoire và Senegal vào.
những năm 1960, vào khoảng thời gian các thuộc địa cũ của Pháp này giành độc lập. Brazil, nhờ cải cách tài khóa năm 1965, đã áp dụng thuế VAT truyền thống áp. dụng cho tất cả các khâu sản xuất. Sự mở rộng của VAT được giới hạn ở dưới 10 quốc gia vào cuối những năm 1960 (Stéphane Buydens, 2008).
Nam 1965, thuế GTGT vẫn chưa thành công trên toàn thế giới, vì hầu hết các loại thuế tiêu dùng chung trong OECD là thuế bán lẻ (OECD, 2007). Tuy nhỉ , đến năm 1989, 48 quốc gia, chủ yếu nằm ở Tây Âu và Mỹ Latinh, nhưng cũng bao gồm. một số quốc gia đang phát triển, đã áp dụng thuế GTGT (John Norregaard và Tehmina S. Su lan rộng của thuế VAT ở Châu Âu được thúc đẩy bởi thực tế là nó là điều kiện tiên quyết để trở thành thành viên của Liên minh Châu Âu (trước đây là Cộng đồng Kinh tế Châu Âu).
Sự lan rộng của nó đã tăng nhanh kể từ đó, với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ IME, vì nó hiện đã được thực hiện ở hơn 140 quốc gia, nơi nó thường chiếm 1/5 tổng thu nhập từ thuế. Ở hầu hết các quốc gia, nó đã được sử dụng đề tăng thu, nhưng ở một số nước, nó cũng giúp giảm thuế thu nhập. và thuế tiêu thụ đặc biệt. Doanh thu do thuế tiêu thụ chung tạo ra (tức là thuế GTGT hoặc thuế hàng hóa và dịch vụ) chiếm 18,6% tổng thu thuế của các nuée OECD.
năm 2007 (so với 13,5% năm 1970) và lên tới 19,8% tổng thu thuế của các nước. OECD châu Âu (so với 15,2% năm 1970) (OECD, 2009). Phần thuế tiêu dùng chung tính theo phần trăm GDP gần như tăng gấp đôi từ năm 1970 đến 2007 (3,3% năm 1970 so với 6.7% năm 2007 đối với các nước OECD và 3,7% so với 7,5% đối với các nước OECD châu Âu). 32 trong số 33 nước OECD đã áp dụng thuế VAT.1 dưới đây cho thấy bức tranh phát triển của thuế GTGT: bắt đầu với một vài người tiên phong trong những năm 1960, thuế GTGT bắt đầu lan rộng khắp thế giới.
Đến năm 1992, khoảng 80 quốc gia đã áp dụng nó; đến năm 2008, it nhất 136 quốc gia có thuế GTGT. Kẻ từ đó, vẫn có nhiều quốc gia tham gia vào hàng. ngũ GTGT hơn: vi du, vào năm 2009, Lào đã áp dung GTGT va Pakistan hign dang xem xét làm điều tương tự. Điểu thú vị là ở một tốc gia, thuế VAT cũng đang.
trở thành loại thuế phụ quan trọng, đặc biệt là ở Án Độ và Canada. Tuy nhiên, ở cấp. ngoại trừ một số quốc gia ở Trung Đông - nơi mà Hội đồng Hợp tác. Vùng Vịnh đã từng xem xét áp dụng thuế GTGT - và một số đảo nhỏ, hầu hết mọi quốc gia, ngoại trừ đáng chú ý là Hoa Kỳ, hiện đã giới thiệu một số hình thức.1 Số lượng các quốc gia áp dụng thuế GTGT (Nguén: Jorge Martinez: va Richard M.
Bird, 2010) ‘Tam quan trọng ngày cảng tăng của thuế GTGT thậm chí còn rõ rằng hơn ở. các nước đang phát triển. Trong những thập kỷ gần đây, tự do hóa thương mại đã dẫn đến sự sụt giảm đáng kể các loại thuế hai quan từng thống trị, hiện nay ít nhiề bị rằng buộc với thuế biên chế đối với vị trí thứ ba. sự gia tăng nguồn.
thu từ thuế GTGT đã bù đắp cho sự sụt giảm này đến mức, như Hình 1.1 cho thấy, thuế tiêu dùng hiện đóng vai trò quan trọng hơn đáng kể về doanh thu ở nhiều nước. đang phát triển so với thuế thu nhập, và trong hầu hết mức tăng gần như hoàn toàn được phân bổ cho GTGT. 10 : oa — Ặ 035 eee sự ee a he Rother Taxes Hình 1. 2 Cơ cấu thuế trung bình hàng năm tính theo tỷ trọng của tổng số thuế ở các nước đang phát triển (Nguồn: Jorge Martinez.
i=quez và Richard M. Tác động của thué GIGT “Thuế GTGT đang trở nên phổ biến trên toàn thế giới vì những ưu điểm sau: © __ Khuyến khích tiết kiệm và đầu tư cá nhân: Một trong những lý do tốt nhất để thiết lập thuế GTGT là hệ thống khuyến khích tiết kiệm và đầu tư cá nhân. © _ Giúp tạo ra doanh thu: Thuế GTGT minh bạch và có gánh nặng tối thiểu cho người tiêu dùng vì nó được thu theo từng mảng nhỏ ở các khâu sản xuất và phân phối khác nhau. Thuế GTGT dựa trên giá trị gia tăng không phải trên tổng.
Vì vậy, giá không tăng do thuế GTGT. © —_ Lợi thế về kinh tế: Vì thuế GTGT là cam kết thông qua cấp độ bán lẻ, nó cung cấp tắt cả các lợi thế kinh tế của một loại thuế bao gồm toàn bộ giá trong. phạm vi của nó, đồng thời việc thanh toán thuế trực tiếp được dàn trải. œ — Cơ hội của chính phủ: Thuế GTGT cho chính phủ cơ hội để đưa trở.
lại hệ thống thuế tất cả những cá nhân và tổ chức đã được miễn thuế dưới hình thức này hay hình thức khác bởi cơ quan quản lý trước đó. Có thể thấy, lợi ích của thuế GTGT có thể rất đa dạng: tránh được việc đánh thuế gián thu, có lẽ khó trốn hơn so với các hình thức đánh thuế khác và nó có thể i dé dang được thực hiện tương thích với thương mại quốc tế.