CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ THANH TRA THUẾ 1. Những nội dung cơ bản về thuế 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” [4]. Đối với từng sắc thuế, cần đổi mới phương pháp tiếp cận phù hợp, giúp cho cho người nộp thuế hiểu được, hiểu đúng và thông suốt những quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của mình để từ đó họ sẽ an tâm, tự nguyện tự giác nộp thuế cho Nhà nước, có như vậy thì mới đảm bảo thực hiện được phương châm và mục tiêu của ngành Thuế theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “thu thuế phải thu được lòng dân”.
Để hiểu rõ về bản chất của thuế, khi nghiên cứu tìm hiểu về khái niệm thuế cần chú ý những đặc điểm sau: - Trong xã hội hiện nay, thuế là các khoản đóng góp bằng tiền. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường quan hệ hàng hóa- tiền tệ ngày càng phát triển. Vì vậy các khoản thu thuế bằng tiền góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. - Thuế là khoản thu bắt buộc được thực hiện thông qua các công cụ của Nhà Nước.
Cho dù được thực thi dưới bất kì hình thức nào, thì thuế thông qua hệ thống pháp luật thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc thông qua quyền lực của Nhà Nước. Vì vậy, người nộp thuế nhất định phải tuân theo các quy định pháp luật về quản lý thuế, đăng ký, kê khai và nộp thuế theo quy định của Nhà Nước. Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện. - Thuế là một khoản thu vào NSNN mà không có đối khoản cụ thể và không hoàn trả trực tiếp cho NNT nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong việc quản lý xã hội, thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước.
Khác với các khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho 5 NNT (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho NNT thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho NNT. Sau khi thu thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT.
Vai trò của thuế Thuế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, sự công bằng và ổn định xã hội, nó không chỉ là một nguồn thu chủ yếu của NSNN. Khi nghiên cứu các vấn đề về tài chính và NSNN, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản như sau: - Là công cụ huy động nguồn lực vật chất cho nhà nước:Khoản thu từ thuế chiếm khoảng 90% tổng thu ngân sách nhà nước, phải đảm nhiệm cho hàng loạt các yêu cầu chi tiêu cho bộ máy nhà nước, cho cộng đồng xã hội. Thuế mang tính không hoàn trả trực tiếp nên nhà nước có thể yên tâm dùng thuế làm công cụ chủ yếu để thu ngân sách, phục vụ các chi tiêu của quốc gia mà không phải lo lắng về nghĩa vụ bồi hoàn hay trả nợ. Nhà nước sử dụng nguồn lực này đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng – kinh tế; đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp; các sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục – thể thao – khoa học công nghệ; Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;.
- Kích thích tăng trưởng kinh tế: là vai trò không kém phần quan trọng bởi vì chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư và đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết sản xuất và thị trường nhằm xác lập một cơ cấu kinh tế hợp lý; Thuế sẽ được đánh cao vào các ngành có điều kiện thuận lợi, được nhiều nhà đầu tư quan tâm và ngược lại đối với những ngành kém thuận lợi nhằm tạo cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. 6 Đồng thời, việc phân biệt thuế suất đối với từng loại sản phẩm, ngành hàng tự nó đã góp phần điều chỉnh giá cả, quan hệ cung cầu và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư những sản phẩm, ngành hàng theo đúng định hướng của nhà nước và việc ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành nghề cũng góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế. -Góp phần tạo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và thực hiện công bằng xã hội: Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì khoảng cách giàu nghèo sẽ càng được phân cực rõ ràng, sẽ tạo ra sự bất công bằng trong việc chia sẻ thành quả kinh tế, dần dần dẫn đến sự mất ổn định về an ninh, xã hội.
Các sắc thuế như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập… đều có chung một tác dụng là điều tiết thu nhập, đánh thuế cao vào những mặt hàng xa xỉ, những người có thu nhập cao và đánh thuế thấp hoặc không đánh thuế vào những mặt hàng thiết yếu, vào những người có thu nhập thấp. Như vậy, việc qui định về đối tượng chịu thuế, thuế suất từng ngành hàng như trên bên ngoài như là một sự cưỡng chế nhưng bên trong nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định.Vai trò của chính sách thuế trong thu hút vốn FDI tại Việt Nam Thuế là công cụ thu hút vốn đầu tư. Trên thực tế, mục tiêu của nhà đầu tư là nhằm thu lợi nhuận tối đa, trong khi đó, thuế lại tác động trực tiếp đến lợi nhuận của nhà đầu tư. Để thực hiện thu hút vốn đầu tư, chính sách thuế phải được sử dụng một cách linh hoạt thông qua chế độ ưu đãi, miễn giảm, thuế suất hợp lý.
Thứ nhất, quy định về mức thuế suất. Thuế suất là một bộ phận cấu thành cơ bản của hệ thống thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng với ý nghĩa biểu thị mức độ động viên cao hay thấp trên mỗi đơn vị thu nhập. Các quy định pháp luật thuế TNDN về mức thuế suất có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau với xu hướng giảm nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh hấp dẫn đối với nhà đầu tư. 7 Luật Thuế TNDN năm 2008 quy định mức thuế suất phổ thông là 25%, thuế suất thuế TNDN đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác từ 32% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh.
Để cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN đã quy định mức thuế suất mới theo đó thuế suất thuế TNDN phổ thông là 22%, áp dụng từ ngày 01/01/2014; Thuế suất này được giảm xuống 20% từ ngày 01/01/2016. Với mức thuế suất này so với các nước trong khu vực và trên thế giới khá thấp, DN có thể thu được lợi nhuận cao mà không phải đóng mức thuế như trước. Bài toán mà DN luôn đặt ra đó là so sánh lợi nhuận luôn lớn hơn chi phí bỏ ra. Rõ ràng, xu hướng giảm mức thuế suất này đã và đang tác động tới tư duy đầu tư của nhà đầu tư, có tác dụng trong khuyến khích và thu hút môi trường đầu tư tại Việt Nam.
Khi đó, cùng một điều kiện đầu tư giống nhau giữa hai quốc gia nhưng mức thuế suất ở Việt Nam thấp hơn buộc nhà đầu tư phải cân nhắc và dễ dàng lựa chọn đầu tư ở Việt Nam. Thứ hai, quy định về ưu đãi thuế TNDN Điều 13, 14 Luật thuế TNDN 2008 quy định 2 hình thức ưu đãi thuế là ưu đãi về thuế suất và ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với một số lĩnh vực, địa bàn cần khuyến khích đầu tư. Theo đó, mức ưu đãi cao nhất (mức thuế suất 10% trong 15 năm, đươc miễn thuế tối đa trong 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp tối đa trong 9 năm tiếp theo) dành cho các DN thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm và DN thành lập mới từ dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao. Để tăng cường hơn nữa vai trò trong thu hút đầu tư Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các 8 Luật thuế đã bổ sung thêm các đối tượng để hưởng ưu đãi thuế TNDN như ưu đãi đối với dự án đầu tư mở rộng và các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là ưu đãi trong lĩnh vực công nghệ cao như các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo DN công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao; đầu tư xây dựng - kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo DN công nghệ cao; sản xuất vật liệu composit…; các dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp và các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.
[2] Thứ ba, theo Luật thuế xuất nhập khẩu cho phép miễn thuế trong các trường hợp: hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của các dự án thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư. đã giúp các nhà đầu tư giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất sản xuất, xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như quốc tế. Như vậy, thuế xuất nhập khẩu đã góp phần tạo nên một môi trường thuận lợi, hấp dẫn cho các nhà đầu tư.