CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Một số vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế Doanh thu, quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành luật thuế Giá trị gia tăng là Cộng hòa Pháp vào năm 1954.
Thuế Giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là Taxe Sur La Veleur Ajou tesee (viết tắt là TVA), tiếng Anh gọi là Vale Added Tax (viết tắt là VAT) dịch ra tiếng Việt là thuế Giá trị gia tăng. Ở nước ta, Luật thuế GTGT được ban hành ngày 10/5/1997 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX và chính thức áp dụng từ ngày 01/01/1999, nhằm khắc phục những nhược điểm của thuế Doanh thu là thu thuế trùng lắp, nhiều mức thuế suất, hạn chế xuất khẩu để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và công tác quản lý thuế. Kể từ khi ban hành đến nay, luật thuế Giá trị giá tăng đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn nước ta trong từng thời kỳ và thông lệ quốc tế. Vai trò của thuế giá trị gia tăng 1.
Vai trò của thuế giá trị gia tăng trong lưu thông hàng hóa Luật thuế doanh thu quy định doanh thu phát sinh là cơ sở để thực hiện chế độ thu nộp thuế. Do đó Nhà nước đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh của sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Nếu các sản phẩm, hàng hoá chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế cũng tăng thêm qua các khâu nên việc áp dụng thuế doanh thu dẫn đến tình trạng thuế thu trùng lắp. Ðiều đó mang tính bất hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Với tính ưu điểm của thuế giá trị gia tăng là Nhà nước chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lưu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh như mô hình thuế doanh thu. Nên việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hưởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được thuế chồng lên thuế. 5 Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì phần lớn các nước trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế giá trị gia tăng, giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể và mức sản xuất của các doanh nghiệp, mức tiêu dùng củê dân chúng không sút giảm, hay chỉ suất giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trường hợp tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng trong định kỳ điều chỉnh. Như vậy ta có thể kết luận rằng thuế giá trị gia tăng không phải là một nhân tố gây ra lạm phát, gây khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá mà trái lại, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu.
Vai trò của thuế giá trị gia tăng trong quản lý Nhà nước Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vi mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, do đó thuế GTGT có vai trò rất quan trọng và được thể hiện như sau: - Thứ nhất, tạo cho Nhà nước số thu lớn và ổn định. Thuế GTGT là sắc thuế thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hóa hoặc được cung ứng dịch vụ nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN. Ở Việt Nam tỷ trọng thuế giá trị gia tăng trong tổng số thu Ngân sách Nhà nước hàng năm (trừ dầu thô) chiếm khoảng 27%.
Mặt khác, thuế GTGT lại có tính trung lập kinh tế cao, đánh thuế không phụ thuộc vào hoàn cảnh của người nộp thuế nên thuế GTGT có thể tạo nguồn thu lớn cho NSNN. - Thứ hai, thúc đẩy thực hiện khâu hóa đơn, chứng từ. Việc thực hiện khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua vào đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hóa đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế. Tăng cường khâu hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hóa có hóa đơn, chứng từ; việc tính thuế đầu vào được khấu trừ, thuế đầu ra là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán thực hiện tốt hơn chế độ hóa đơn, chứng từ.
- Thứ ba, khuyến khích sản xuất hàng nhập khẩu, thúc đẩy chuyên môn hóa. 6 Đối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ hoặc hoàn lại số thuế GTGT đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế. Thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất, kinh doanh hàng nội địa. Việc khấu trừ thuế đầu vào còn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp hiện đại hóa, chuyên môn hóa sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm.
Ngoài các vai trò trên thuế giá trị gia tăng còn góp phần hoàn thiện chính sách thuế, làm cho hệ thống chính sách thuế từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế của nước ta với khu vực và thế giới. Cơ chế hoạt động của thuế giá trị gia tăng Cơ sở của thuế giá trị gia tăng chính là phần giá trị tăng thêm của sản phẩm do cơ sở sản xuất, kinh doanh mới sáng tạo ra chưa bị đánh thuế. Nói cách khác, cơ sở của thuế giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Do đó cơ chế hoạt động của thuế giá trị gia tăng được quy định như sau: Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế giá trị gia tăng là sản phẩm, hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế như nhau.
Thuế giá trị gia tăng có điểm cơ bản khác với thuế doanh thu là chỉ có người bán hàng (hoặc dịch vụ) lần đầu phải nộp thuế giá trị gia tăng trên toàn bộ doanh thu bán hàng (hoặc cung ứng dịch vụ). Còn người bán hàng (hoặc dịch vụ) ở các khâu tiếp theo đối với hàng hoá (hoặc dịch vụ) đó, chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm. Nói cách khác, thuế giá trị gia tăng là loại thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ, trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá (hoặc dịch vụ) từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng, khi khép kín một chu kỳ kinh tế. Ðến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi kết quả sản xuất, kinh doanh của đối tượng nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản được cộng thêm vào giá bán của đối tượng cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thuế giá trị gia tăng do người tiêu dùng chịu nhưng không phải do người tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do người bán sản phẩm (hoặc dịch vụ) nộp thay vào Ngân sách Nhà nước, do trong giá bán hàng hoá (hoặc trong dịch vụ) có cả thuế giá trị gia tăng. Vì qua từng công đoạn, thuế giá trị gia tăng đã được người bán đưa vào giá hàng 7 hoá, dịch vụ cho nên thuế này được chuyển toàn bộ cho người mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ cuối cùng chịu. Đối tượng chịu thuế và nộp thuế giá trị gia tăng 1.
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng Là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định hiện hành. Việc xác định hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được căn cứ vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, theo đó hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng. Như vậy, phạm vi đối tượng chịu thuế giá trị giá tăng ở Việt Nam rất rộng, bao gồm tất cả các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng trong nước. Hoạt động tiêu dùng trong nước có thể là tiêu dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cho các hoạt động không sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng cá nhân.
Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng Là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam (gọi chung là cơ sở kinh doanh) không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng (gọi chung là người nhập khẩu). Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng bao gồm: + Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật doanh nghiêp) Luật Hợp tác xã và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác.