CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 1. Lịch sử Thuế GTGT Doanh nhân người Đức Wilhelm Von Siemens được cho là người đưa ra ý tưởng về thuế GTGT vào những năm 1920 (Liam Ebril và cộng sự, 2001). Điều chỉ là ý tưởng kể từ đó đã được xây dựng thành một hệ thống bởi người được gọi là cha đẻ của VAT, Maurice Lauré, người khi đó là công ty kinh doanh giám đốc các cơ quan thuế của Pháp. Thuế GTGT được thực hiện ở Pháp vào năm 1954.
Thuế GTGT cấp sản xuất đã được áp dụng ngay sau đó ở Côte d’Ivoire và Senegal vào những năm 1960, vào khoảng thời gian các thuộc địa cũ của Pháp này giành độc lập. Brazil, nhờ cải cách tài khóa năm 1965, đã áp dụng thuế VAT truyền thống áp dụng cho tất cả các khâu sản xuất. Sự mở rộng của VAT được giới hạn ở dưới 10 quốc gia vào cuối những năm 1960 (Stéphane Buydens, 2008). Thuế là một khoản phí mà người dân phải nộp bắt buộc cho chính phủ mà không phải trả lại trực tiếp cho NNT (Parameswaran, 2005).
Các chính phủ đánh thuế vì nhiều mục đích, nhưng chủ yếu là gây quỹ để trang trải các khoản chi tiêu công và mặt khác để phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý. Thuế là nguồn thu chính của chính phủ (Beza, 2014). Năm 1965, thuế GTGT vẫn chưa thành công trên toàn thế giới, vì hầu hết các loại thuế tiêu dùng chung trong OECD là thuế bán lẻ (OECD, 2007). Tuy nhiên, đến năm 1989, 48 quốc gia, chủ yếu nằm ở Tây Âu và Mỹ Latinh, nhưng cũng bao gồm một số quốc gia đang phát triển, đã áp dụng thuế GTGT (John Norregaard và Tehmina S.
Sự lan rộng của thuế VAT ở Châu Âu được thúc đẩy bởi thực tế là nó là điều kiện tiên quyết để trở thành thành viên của Liên minh Châu Âu (trước đây là Cộng đồng Kinh tế Châu Âu). Sự lan rộng của nó đã tăng nhanh kể từ đó, với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ IMF, vì nó hiện đã được thực hiện ở hơn 140 quốc gia, nơi nó thường chiếm 1/5 tổng thu nhập từ thuế. Ở hầu hết các quốc gia, nó đã được sử dụng để tăng thu, nhưng ở một số nước, nó cũng giúp giảm thuế thu nhập và thuế tiêu thụ 9 đặc biệt. Doanh thu do thuế tiêu thụ chung tạo ra (tức là thuế GTGT hoặc thuế hàng hóa và dịch vụ) chiếm 18,6% tổng thu thuế của các nước OECD năm 2007 (so với 13,5% năm 1970) và lên tới 19,8% tổng thu thuế của các nước OECD châu Âu (so với 15,2% năm 1970) (OECD, 2009).
Phần thuế tiêu dùng chung tính theo phần trăm GDP gần như tăng gấp đôi từ năm 1970 đến 2007 (3,3% năm 1970 so với 6,7% năm 2007 đối với các nước OECD và 3,7% so với 7,5% đối với các nước OECD châu Âu). 32 trong số 33 nước OECD đã áp dụng thuế VAT. Với những ưu việt nổi trội của thuế GTGT nên nhiều nước trên thế giới đưa thuế GTGT vào áp dụng. Tính đến nay đã có trên 150 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng trong đó có Việt Nam, tại kỳ họp lần thứ 11, Quốc hội khoá IX, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng vào ngày 10/05/1997 và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999.
Sau đó, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII ngày 03/06/2008 thông qua Luật thuế GTGT mới thay thế luật trên và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, đến ngày 19/06/2013 Quốc Hội thông qua văn bản luật số 31/2013/QH13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế GTGT năm 2008. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế GTGT 1. Khái niệm thuế GTGT Theo quy định tại Điều 2, Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 3 tháng 6 năm 2008 định nghĩa “thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Theo quy định của Luật thuế GTGT thì thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.
GTGT là loại thuế đánh vào sự gia tăng giá trị của hàng hóa và dịch vụ ở mỗi giai đoạn sản xuất và tuần hoàn, và nhìn từ khía cạnh khác như thuế đánh vào tiêu dùng được đánh vào mọi giai đoạn của phiên kinh tế, và được áp dụng theo quy định nói cách khác, lượng tiêu thụ gây ra. Hay nói cách khác, thuế 10 GTGT là loại thuế đánh vào nhiều giai đoạn ở mỗi giai đoạn của chuỗi giá trị gia tăng, với điều khoản cho phép khấu trừ thuế đầu vào đối với khoản thuế đã nộp ở giai đoạn trước, khoản thuế này có thể được khấu trừ vào nghĩa vụ thuế GTGT khi bán hàng tiếp theo. Dưới đây cho thấy bức tranh phát triển của thuế GTGT: bắt đầu với một vài người tiên phong trong những năm 1960, thuế GTGT bắt đầu lan rộng khắp thế giới. Đến năm 1992, khoảng 80 quốc gia đã áp dụng nó; đến năm 2008, ít nhất 136 quốc gia có thuế GTGT.
Kể từ đó, vẫn có nhiều quốc gia tham gia vào hàng ngũ GTGT hơn: ví dụ, vào năm 2009, Lào đã áp dụng GTGT và Pakistan hiện đang xem xét làm điều tương tự. Điều thú vị là ở một số quốc gia, thuế VAT cũng đang trở thành loại thuế phụ quan trọng, đặc biệt là ở Ấn Độ và Canada. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc gia, ngoại trừ một số quốc gia ở Trung Đông - nơi mà Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh đã từng xem xét áp dụng thuế GTGT - và một số đảo nhỏ, hầu hết mọi quốc gia, ngoại trừ đáng chú ý là Hoa Kỳ, hiện đã giới thiệu một số hình thức GTGT. 1 Số lượng các quốc gia áp dụng thuế GTGT (Nguồn: Jorge Martinez-Vazquez và Richard M.
Bird, 2010) Tầm quan trọng ngày càng tăng của thuế GTGT thậm chí còn rõ ràng hơn ở các nước đang phát triển. Trong những thập kỷ gần đây, tự do hóa thương mại đã dẫn 11 đến sự sụt giảm đáng kể các loại thuế hải quan từng thống trị, hiện nay ít nhiều bị ràng buộc với thuế biên chế đối với vị trí thứ ba. Tuy nhiên, sự gia tăng nguồn thu từ thuế GTGT đã bù đắp cho sự sụt giảm này đến mức, như Hình 1.1 cho thấy, thuế tiêu dùng hiện đóng vai trò quan trọng hơn đáng kể về doanh thu ở nhiều nước đang phát triển so với thuế thu nhập, và trong hầu hết mức tăng gần như hoàn toàn được phân bổ cho GTGT. Đặc điểm của thuế GTGT Theo Phạm Đức Cường và cộng sự (2016), các đặc điểm của thuế GTGT: - Là một sắc thuế của hệ thống thuế nên thuế GTGT mang những đặc điểm chung của hệ thống thuế: Tính cưỡng chế và tính pháp lý cao.
Đặc điểm này được thể chế hoá trong pháp luật của mỗi quốc gia. Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp. - Ngoài đặc điểm chung của hệ thống thuế, thuế GTGT còn mang những đặc điểm riêng: Một là, thuế GTGT là thuế gián thu điển hình: Số tiền mà người tiêu dùng phải trả cho người bán khi mua hàng hoá là tổng giá bán của hàng hoá và tiền thuế GTGT (điều này được phản ánh rất rõ ràng trong hoá đơn tài chính). Người tiêu dùng phải trả tiền thuế GTGT mỗi khi mua hàng, còn người bán là người thu tiền thuế GTGT của người tiêu dùng “hộ” Nhà nước.
Đây là nét điển hình của thuế gián thu. Hai là, thuế GTGT khắc phục được hiện tượng thuế đánh chồng lên thuế, vốn là một nhược điểm của thuế doanh thu, phù hợp với nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường: Ba là, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Bốn là, áp dụng thuế GTGT sẽ khuyến khích việc sử dụng hoá đơn chứng từ.
Năm là, Thuế GTGT là một bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa. Vai trò của thuế GTGT Đối với hoạt động lưu thông hàng hóa, việc triển khai thuế GTGT giúp cho việc điều tiết giá cả được hợp lý, chính xác hơn nhằm tránh tình trạng thuế chồng lên thuế. Cùng với đó, thuế GTGT góp phần quan trọng trong việc bình ổn giá, thúc đẩy sản xuất phát triển, đẩy mạnh hoạt động sản xuất và mở rộng quá trình lưu thông hàng hóa. Đối với hoạt động quản lý kinh tế của nhà nước, thuế GTGT chính là nguồn thu ổn định cho NSNN, dễ dàng thực hiện các loại thuế trực thu, đảm bảo việc bảo hộ sản xuất kinh doanh các hàng hóa nội địa.
Bên cạnh đó, thuế GTGT đóng vai trò quan trọng trong việc chống thất thu thuế, nâng cao trách nhiệm của NNT. Thuế GTGT đang trở nên phổ biến trên toàn thế giới vì những ưu điểm sau: • Khuyến khích tiết kiệm và đầu tư cá nhân: Một trong những lý do tốt nhất để thiết lập thuế GTGT là hệ thống khuyến khích tiết kiệm và đầu tư cá nhân. • Giúp tạo ra doanh thu: Thuế GTGT minh bạch và có gánh nặng tối thiểu cho người tiêu dùng vì nó được thu theo từng mảng nhỏ ở các khâu sản xuất và phân phối khác nhau. Thuế GTGT dựa trên giá trị gia tăng không phải trên tổng giá.
Vì vậy, giá không tăng do thuế GTGT. • Lợi thế về kinh tế: Vì thuế GTGT là cam kết thông qua cấp độ bán lẻ, nó cung cấp tất cả các lợi thế kinh tế của một loại thuế bao gồm toàn bộ giá trong phạm vi của nó, đồng thời việc thanh toán thuế trực tiếp được dàn trải. • Cơ hội của chính phủ: Thuế GTGT cho chính phủ cơ hội để đưa trở lại hệ thống thuế tất cả những cá nhân và tổ chức đã được miễn thuế dưới hình thức này hay hình thức khác bởi cơ quan quản lý trước đó. Có thể thấy, lợi ích của thuế GTGT có thể rất đa dạng: tránh được việc đánh thuế gián thu, có lẽ khó trốn hơn so với các hình thức đánh thuế khác và nó có thể dễ dàng được thực hiện tương thích với thương mại quốc tế.
Trong một nghiên cứu vĩ mô thực nghiệm của Keen và Lockwood (2010), người ta thấy rằng thuế GTGT cũng là một “cỗ máy kiếm tiền”: nó đã giúp các quốc gia tạo ra nhiều doanh thu hơn so với mức họ có thể có nếu không có thuế GTGT.