CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN 1. Khái niệm về đất đai và phân loại đất đai 1. Khái niệm về đất đai Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái Đất, gồm tất cả các cấu thành ngay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí, thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động vật và thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khử và hiện tại để lại. Dưới góc độ Luật học, đất đai là một khoảng không gian trải dài vô tận từ trung tâm trái đất tới vô cực trên trời và liên quan đến nó là một loạt các quyền lợi khác nhau quyết định những gì có thể thực hiện được với đất.
Khoản 1 Điều 3 Luật Đất đai 2013 đưa ra định nghĩa về thửa đất như sau: “Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ”. Phân loại đất đai Về phân loại đất đai, căn cứ vào mục đích sử dụng đất Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 phân loại đất thành 3 nhóm dưới đây: Nhóm đất nông nghiệp: Đất nông nghiệp là đất để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và một số mục đích khác. Nhóm này bao gồm các loại đất sau đây: (i). Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (ii).
Đất trồng cây lâu năm; (iii). Đất rừng sản xuất; (iv). Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; (v). Đất nuôi trồng thủy sản; (vi).
Đất làm muối; (vii). Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; 9 Nhóm đất phi nông nghiệp: Bao gồm các loại đất sau đây: (i). Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; (ii). Đất xây dựng trụ sở cơ quan; (iii) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; (iv) Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; (v) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; (vi).
Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; (vii). Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; (viii). Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; i) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; (ix). Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở; Nhóm đất chưa sử dụng: Bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng.
Như vậy, ở Việt Nam, đất đai được chia thành 3 nhóm như trên, trong đó nhóm đất nông nghiệp và nhóm đất phi nông nghiệp đã được quy định rõ. Nhóm đất chưa sử dụng chưa được gọi tên cụ thể nhưng thực tế nếu có bất kỳ loại đất nào phát sinh mà không thuộc 2 nhóm trên thì sẽ được phân vào nhóm đất chưa sử dụng. Như đã xác định ở phần phạm vi nghiên cứu, Luận văn không phân tích việc Nhà nước thu hồi đất thuộc nhóm đất nông nghiệp mà chỉ nghiên cứu việc Nhà nước thu hồi đất thuộc nhóm đất nông nghiệp. Khái niệm và căn cứ pháp lý để thu hồi đất 1.
Khái niệm về thu hồi đất Theo Từ điển Luật học, thu hồi đất được hiểu là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền SDĐ của người vi phạm quy định về SDĐ để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ SDĐ hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (Bộ Tư pháp, 2006). Cách hiểu này chỉ cho biết nội dung của việc Nhà nước thu hồi đất là khi người SDĐ vi phạm các quy định về SDĐ thì sẽ bị thu hồi quyền SDĐ. Tuy nhiên, khái niệm này chưa chỉ ra bản chất pháp lý của việc Nhà nước thu hồi đất.
Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 đã đề cập vấn đề thu hồi đất, nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 và điều 26 Luật Đất đai năm 1993). Khái niệm thu hồi đất lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2003: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”. Điểm mới của khái niệm này là đã nêu ra bản chất pháp lý của việc Nhà nước thu hồi đất. Đó là quyết định có tính hành chính của Nhà nước Điều này cũng có nghĩa là việc thu hồi đất cho thấy có bị tác động của Nhà nước bằng biện pháp hành chính mặc dù vậy, khái niệm này vẫn chưa đầy đủ.
Cách định nghĩa này dẫn đến cách hiểu người SDĐ bị thu hồi chỉ là tổ chức hay UBND xã, phường, thị trấn. Đồng thời, khái niệm này cũng chưa bao quát được các trường hợp Nhà nước thu hồi đất trong thực tế. Khoản 11 Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 đưa ra khái niệm về Nhà nước thu hồi đất như sau: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Khái niệm này có điểm tiến bộ là nó nêu ra một cách hiểu có tính bao quát, ngắn gọn về việc Nhà nước thu hồi đất, 11 trong đó nhấn mạnh việc Nhà nước thu hồi quyền SDĐ của người vi phạm pháp luật về đất đai hoặc người được Nhà nước trao quyền SDĐ.
Trong khái niệm này xuất hiện thuật ngữ trao quyền thay cho thuật ngữ giao quyền mà Luật Đất đai năm 2003 đã sử dụng. Tác giả Luận văn cho rằng thuật ngữ trao quyền đã thể hiện rõ bản chất của việc Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại đất vốn thuộc sở hữu của toàn dân mà Nhà nước là đại diện CSH mà việc thu hồi là của Nhà nước – quyền lực công cộng của Nhà nước với tư cách là bộ máy chính trị thay mặt toàn dân quản lý toàn bộ đất đai. Từ những nghiên cứu trên, có thể hiểu một cách khái quát về thu hồi đất như sau: “Thu hồi đất là việc Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đất đai, thu lại đất và quyền sử dụng đất đã trao cho các chủ thể sử dụng đất khi các chủ thể này vi phạm pháp luật hoặc theo các trường hợp khác do pháp luật quy định. Căn cứ pháp lý để thu hồi đất Luật đất đai 2013 quy định các căn cứ để Nhà nước thu hồi đất với từng nhóm đất thu hồi, cụ thể như sau: Thứ nhất, đối với các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, căn cứ để Nhà nước thu hồi đất được Nhà nước quy định tại Điều 63 Luật đất đai 2013, cụ thể là: (i).
Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật đất đai 2013 (là các trường hợp mà Nhà nước quy định thuộc trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng); (ii). Kế hoạch sử dụng đất, hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; (iii). Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án. Thứ hai, đối với trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai thì việc thu hồi đất phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thấm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai (khoản 2 Điều 64 Luật đất đai 2013).
12 Thứ ba, đối với các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc SDĐ theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người thì theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật đất đai 2013, việc thu hồi đất phải dựa trên các căn cứ sau: (i).