Chương 1: ý luận chung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong trường hợp thu hồi đất. Chương 2: Thực trạng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thu hồi đất trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Chương 3: Định hướng, giải pháp bảo đảm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thu hồi đất trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. 7 Luan van Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ TRONG THU HỒI ĐẤT 1. Khái niệm về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ trong thu hồi đất 1.
Khái niệm bồi thường trong thu hồi đất Dưới góc độ ngôn ngữ học, “Bồi thường được hiểu là“đền bù những tổn hại đã gây ra [21]. Dưới góc độ quyền dân sự “B ạ mộ dạ ĩ ụ dâ s s d â ạ.T ậ dâ s ạ ù ữ ổ ấ k ắ ụ ữ ậ q d ạm â vì ậ ạ ì ứ m dâ s ằm ộ ê ó â ạ k ắ ụ ậ q ằ ù ắ ù ổ ấ ậ ấ ổ ấ ầ ê ạ , hay nói k ó ể ể “ mk ô ụ ạ ì ạ ầ ủ s ậ, ” [12]. Tuy nhiên, bản chất của việc thu hồi đất không chỉ là một hoạt động công vụ nhằm thực hiện quản lý nhà nước về đất đai, và ngược lại với các hoạt động công vụ giao đất, cho thuê đất – những hoạt động công vụ giúp xác lập, hình thành một quan hệ pháp luật về đất đai – thì thu hồi đất lại là một hoạt động công vụ làm chấm dứt một quan hệ pháp luật về đất đai. Chính vì vậy, bồi thường trong thu hồi đất sẽ không còn là một loại trách nhiệm dân sự thông thường mà sẽ có tính đặc thù tùy thuộc vào có hay không yếu tố “trái pháp luật của hoạt động thu hồi đất.
Nếu hoạt động thu hồi đất được xác định là trái pháp luật thì sẽ phát sinh một trách nhiệm dân sự của Nhà nước là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (hiện nay, nếu Nhà nước thu hồi đất trái pháp luật thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của uật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017). Ngược lại, nếu hoạt động thu hồi đất được xác định không phải là trái pháp luật thì nếu có phát sinh trách nhiệm thì trách nhiệm sẽ không phải là 8 Luan van trách nhiệm bồi thường mà là trách nhiệm “đền bù. Hai thuật ngữ “bồi thường và “đền bù khi được dịch sang tiếng Anh đều sử dụng từ chung là “Compensation. Tuy nhiên, “bồi thường là Damage compensation còn “đền bù lại là Lost repairation.
“Đền bù được hiểu là biện pháp, cách thức để bù đắp, hỗ trợ cho những mất mát, thiếu hụt còn “bồi thường là một nghĩa vụ phải thực hiện để khắc phục một hậu quả do một sự vi phạm. Về mặt thuật ngữ thì như vậy, nhưng về mặt pháp lý thì việc sử dụng hai thuật ngữ này sẽ kéo theo những hệ quả rất khác nhau. Bồi thường thiệt hại bao giờ cũng là hệ quả của một sự vi phạm nào đó, là một nghĩa vụ bắt buộc, còn đền bù chỉ là những hỗ trợ cho những sự mất mát được cho là cần thiết [5]. Như vậy, thuật ngữ “bồi thường đang được sử dụng dưới góc độ của thuật ngữ “đền bù.
Dưới góc độ luật thực định, theo quy định tại khoản 11 Điều 3 uật Đất đai năm 2013 thì “thu hồi đất là “ N q ế ạ q sử dụ ấ ủ N q sử dụ ấ ặ ạ ấ ủ sử dụ ấ ạm ậ ấ và theo quy định tại khoản 12 Điều 3 uật Đất đai năm 2013 thì: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Đồng thời, mục đích của việc thu hồi đất cũng được quy định tại khoản 1 Điều 16 uật Đất đai năm 2013, theo đó, bao gồm: (1) t ấ ì mụ í q ố ò ; ể k ế - xã ộ ì í q ố ô ộ ;(2) t ấ d ạm ậ ấ ; (3) thu ấ d ấm dứ sử dụ ấ e ậ ạ ấ ó ơ e dọ í mạ. Như vậy, với các quy định nêu trên thì vấn đề bồi thường chỉ đặt ra đối với trường hợp không có vi phạm pháp luật về đất đai, hay nói cách khác, việc thu hồi đất với mục đích vì lợi ích chung thì mới đặt ra vấn đề bồi thường. Từ những phân tích nêu trên, có thể định nghĩa “B ấ N ù ắ ạ q sử dụ ấ ố d í ấ ì í ấ.
Khái niệm hỗ trợ trong thu hồi đất D ó ộ ngôn ngữ học, hỗ trợ được hiểu là “Giúp đỡ nhau, giúp thêm vào [21]. D ó ộ luật th nh, hiện nay thuật ngữ “hỗ trợ được sử dụng trong khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau.Đơn cử, “hỗ trợ pháp lý là một thuật ngữ được sử dụng trong Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Trong đó, mặc dù không có một quy định nào định nghĩa trực tiếp “hỗ trợ và “hỗ trợ pháp lý là gì, nhưng thông qua các quy định cụ thể của Nghị định này thì “hỗ trợ được hiểu là giúp doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng với hệ thống pháp luật. Một trường hợp khác, “hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường là một thuật ngữ được sử dụng trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
Theo đó, mặc dù không có một quy định nào định nghĩa trực tiếp “hỗ trợ và “hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường là gì, tuy nhiên, thông qua thực tiễn 06 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì “hỗ trợ được giải mã là “cung cấp thông tin, hướng dẫn thủ tục cho người bị thiệt hại để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường [15]. Trong quan hệ pháp luật đất đai, theo quy định tại khoản 14 điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc“Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển. Tuy nhiên, để bảo đảm rõ ràng, minh bạch trong logic với định nghĩa về bồi thường trong thu hồi đất thì có thể định nghĩa “H tr k N c thu h i ất là vi c N c tr giúp cho i ó ất b thu h i vì l í ể ổn i sống, s n xuất và phát triển. Khái niệm tái định cư trong thu hồi đất Có thể nói, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu những thiệt thòi do bị thu hồi 10 Luan van đất vì sự phát triển chung.Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức: bồi thường bằng nhà ở; bồi thường bằng giao đất ở mới và bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở.
TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB.Các dự án TĐC cũng được coi là các dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác. D ó ộ ô ữ ọ , “Tái định cư được hiểu là đến một nơi nhất định để sinh sống lần thứ hai (lại một lần nữa) [21]. D ó ộ ậ , pháp luật Việt Nam không giải thích khái niệm “tái định cư .Tuy nhiên, nhiều văn bản vẫn quy định về tái định cư.Hiểu theo cách chung nhất thì tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi cấp xã nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở. Hình thức tái định cư bao gồm: bằng nhà ở, bằng đất ở hoặc bằng tiền.
Đặc biệt, trong quan hệ pháp luật về thu hồi đất thì giữa hai khái niệm là “tái định cư và “bồi thường thì giữa chúng có tính độc lập tương đối bởi“bồi thường – hay theo cách giải nghĩa của tác giả ở trên là “đền bù – phải bảo đảm tính tương xứng về giá trị thì “tái định cư mang tính chính sách về tạo lập chỗ ở mới nhiều hơn [9]. Ngay trong uật Đất đai năm 2013 thì khái niệm “tái định cư được sử dụng ngay mà không có quy định trực tiếp để giải nghĩa. Đơn cử, điểm c khoản 2 Điều 86 uật Đất đai năm 2013 chỉ quy định gián tiếp về “tái định cư trong quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thì cũng quy định một trong những khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là “H tái ố thu ấ ở ủ ộ gia ì cá nhân, V Nam ở ngoài mà di ể ở. Hiện nay, theo quy định của uật Đất đai năm 2013 thì “tái định cư đang tiếp tục được quy định trong các Điều 22, 26, 53, 54, 62, 67, 68, 69, 71, 83, 84, 85, 86, 87, 93, 210.
Trong các điều kiện bảo đảm cho khu tái định cư tập trung, khoản 2 Điều 85 uật Đất đai năm 2013 quy định “Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ 11 Luan van sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng miền. Như vậy, khái niệm về tái định cư và quy định các điều kiện tại khu tái định cư tập trung như sau: “Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, sinh hoạt của người dân, phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng và tập quán định cư tại địa phương. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm bảo đảm khu tái định cư phải được hoàn thành trước khi thực hiện dự án, tạo việc làm cho người dân thuộc khu tái định cư, bảo đảm cuộc sống tại khu tái định cư ổn định, bền vững [8].