Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Đất nông nghiệp 1. Khái niệm Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về đất: “Đất là một thể tự nhiên được hình thành do tác động tổng hợp gồm 5 yếu tố: khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình, tuổi của đất”.
(Docurtaiep (1886), Cuốn sách Tư bản về nền kinh tế thị trường) Theo William, khi định nghĩa về đất thì ông đi sâu vào đất trồng hơn và ông cho rằng: “Đất là lớp mặt tơi xốp của địa cầu có khả năng sản xuất ra sản phẩm cây trồng”. Thur (1918) Còn theo Luật đất đai của nhà Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu chung cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất đai sửa đổi.) Đất nông nghiệp là tất cả những diện tích được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, diện tích nghiên cứu thí nghiệm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Kể cả diện tích đất lâm nghiệp và các công trình xây dựng cơ bản phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp.
Đất sản xuất nông nghiệp: là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp (Trương Duy Khoa (2011), Giáo trình giao đất - thu hồi đất, NXB Hà Nội. Ngoài tên gọi đất sản xuất nông nghiệp, đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp còn được gọi là ruộng đất. 5 Đất canh tác (đất trồng cây hàng năm): là một bộ phận đất nông nghiệp dùng vào việc trồng cây hàng năm như lúa, ngô, khoai, sắn, mía, lạc, vừng, đỗ tương, cói, rau, đậu, cây làm thuốc… * Độ phì nhiêu của đất - Độ phì nhiêu của đất: là khả năng cung cấp cho cây trồng về nước, thức ăn, khoáng và các yếu tố cần thiết khác để cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường. - Độ phì nhiêu tự nhiên của đất: là độ phì nhiêu của đất được hình thành dưới tác động của yếu tố tự nhiên, chưa có tác động của con người.
- Độ phì nhiêu nhân tạo của đất: là độ phì nhiêu được tạo ra do tác động của con người, thông qua hoạt động sản xuất tác động vào đất đai như cày xới, bón phân, cải tạo đất, thủy lợi tưới tiêu, áp dụng các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp… - Độ phì nhiêu tiềm tàng: là độ phì nhiêu tự nhiên mà cây trồng tạm thời chưa sử dụng được. - Độ phì nhiêu kinh tế: là độ phì nhiêu mang lại lợi ích kinh tế cụ thể. Đây là cơ sở để đánh giá kinh tế của đất. (Đỗ Kim Chung (2003), Giáo trình dự án phát triển nông thôn, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội.
Phân loại đất nông nghiệp Theo Luật Đất Đai (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất đai sửa đổi.), nhóm đất nông nghiệp được phân thành các loại sau: + Đất trồng cây hàng năm (đất canh tác) là loại đất dùng trồng các loại cây ngắn ngày, có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm. Đất trồng cây hàng năm bao gồm: * Đất 3 vụ là đất gieo trồng và thu hoạch được 3 vụ/năm với các công thức 3 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 vụ màu,… * Đất 2 vụ có công thức luân canh như lúa - lúa, lúa - màu, màu - màu,… * Đất 1 vụ là đất trên đó chỉ trồng được 1 vụ lúa hay 1 vụ màu/năm. 6 Ngoài ra đất trồng cây hàng năm còn được phân theo các tiêu thức khác và được chia thành các nhóm đất chuyên trồng lúa, đất chuyên trồng màu,… + Đất trồng cây lâu năm gồm đất dùng để trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm, phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản mới đưa vào kinh doanh, trồng một lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm. + Đất rừng sản xuất là diện tích đất được dùng để chuyên trồng các loại cây rừng với mục đích sản xuất.
+ Đất rừng phòng hộ: là diện tích đất để trồng rừng với mục đích phòng hộ. + Đất rừng đặc dụng: là diện tích đất được Nhà nước quy hoạch, đưa vào sử dụng với mục đích riêng. + Đất nuôi trồng thuỷ sản là diện tích đất dùng để nuôi trồng thuỷ sản như tôm, cua, cá… + Đất làm muối là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất muối. + Căn cứ vào công dụng của đất, người ta phân đất nông nghiệp thành các loại: đất trồng cây lương thực, đất trồng cây thực phẩm, đất trồng cây ăn quả, đất trồng hoa cây cảnh… Sau đó, người ta căn cứ vào thời hạn canh tác của từng loại cây trồng để phân thành cây hàng năm và lâu năm.
+ Căn cứ vào vị trí, địa điểm của đất đai nông nghiệp, người ta còn phân thành đất vườn, đất ruộng, đất rẫy, đất ven sông suối,… + Phân loại đất theo tính chất thổ nhưỡng nông hóa, được căn cứ vào nhiều tiêu thức như: căn cứ vào nguồn gốc đá mẹ - yếu tố cấu thành nên đất, thành phần cơ giới của đất, theo hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, theo độ chua, kiềm… + Phân loại đất đai theo hạng của đất đai, căn cứ vào mức độ sinh lời của đất, căn cứ để tính hạng đất gồm các yếu tố: chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện khí hậu, thời tiết, điều kiện tưới tiêu,… 7 1. Đặc điểm của đất nông nghiệp Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Khác với công nghiệp, sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng bởi sự chi phối của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Những đặc điểm đó là: * Đất đai đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong SXNN - Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế.
- Đất đai là sản phẩm của tự nhiên và có giới hạn nhất định. * Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật Trong nông nghiệp, đối tượng sản xuất là các sinh vật, bao gồm: các loại cây trồng, vật nuôi và các loại sinh vật khác. Chúng sinh trưởng và phát triển theo một quy luật sinh lý nội tại và đồng thời chịu tác động rất nhiều từ ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, môi trường. Giữa sinh vật và môi trường sống của chúng là một khối thống nhất, mỗi một biến đổi của môi trường lập tức sinh vật biến đổi để thích nghi nếu quá giới hạn chịu đựng chúng sẽ bị chết.
Các quy luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người. * Sản xuất nông nghiệp tiến hành trên phạm vi không gian rộng lớn và mang tính chất khu vực rõ rệt Các nhà máy, khu công nghiệp dù có lớn thế nào đi chăng nữa thì cũng đều bị giới hạn về mặt không gian nhưng đối với nông nghiệp thì khác hẳn: ở đâu có đất ở đó có sản xuất nông nghiệp. Phạm vi của sản xuất nông nghiệp rộng khắp có thể ở đồng bằng rộng lớn, có thể ở khe suối, triền núi, vì đất nông nghiệp phân tán kéo theo việc sản xuất nông nghiệp mang tính phân tán, manh mún. Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên phạm vi không gian rộng lớn, do đó ở mỗi vùng địa lý nhất định của lãnh thổ các yếu tố sản xuất ( đất đai, khí hậu, nguồn nước, các yếu tố về xã hội) là hoàn toàn khác nhau.
Mỗi vùng 8 đất có một hệ thống kinh tế sinh thái riêng vì vậy mỗi vùng có lợi thế so sánh riêng. Việc lựa chọn vấn đề kinh tế trong nông nghiệp trước hết phải phù hợp với đặc điểm của tự nhiên kinh tế - xã hội của khu vực. Như việc lựa chọn giống cây trồng vật nuôi, bố trí cây trồng, quy trình kỹ thuật…là nhằm khai thác triệt để các lợi thế của vùng. * Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp.
Tính thời vụ này không những thể hiện ở nhu cầu về đầu vào như: lao động, vật tư, phân bón rất khác nhau giữa các thời kỳ của quá trình sản xuất mà còn thể hiện ở khâu thu hoạch, chế biến, dự trữ và tiêu thụ trên thị trường. (Đỗ Kim Chung (2003), Giáo trình dự án phát triển nông thôn, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội. Thu hồi đất nông nghiệp 1. Khái niệm Theo Luật Đất đai năm 2013 đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực vào ngày 01/7/2014, tại khoản 11, điều 4 đã quy định “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất đai sửa đổi.) Từ đó có thể hiểu một cách khái quát về thu hồi đất như sau: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của luật đất đai” Xuất phát từ khái niệm này, có thể đưa ra khái niệm về thu hồi đất nông nghiệp như sau: “Thu hồi đất nông nghiệp là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định 9 của luật đất đai”.
(Trương Duy Khoa (2011), Giáo trình giao đất - thu hồi đất, NXB Hà Nội. Nhu cầu thiết yếu khách quan của việc thu hồi đất nông nghiệp cho quá trình CNH, HĐH đất nước Thứ nhất, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Thứ hai, nước ta xuất phát điểm là nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu, để khắc phục nguy cơ tụt hậu và từng bước thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển thì không có con đường nào khác Việt Nam phải thực hiện CNH, HĐH, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang cơ cấu kinh tế công nghiệp, thương mại, dịch vụ.