ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, thị trường dược liệu và thuốc dược liệu đang đem lại nguồn thu lớn cho các quốc gia. Với các thuốc có nguồn gốc tự nhiên, các hãng dược phẩm đã có doanh số bán băng 30% tổng doanh số bán thuốc toàn thế giới. Bên cạnh đó, sản phẩm “Thực phẩm chức năng”, “Các chất bổ sung dinh dưỡng” hay “Thuốc thay thế hoặc bổ sung”, được sản xuất chủ yếu từ thảo dược hoặc có nguồn gốc thảo dược, được 70-95% dân số thế giới sử dụng [S9], đang phát triên với một tốc độ đáng kinh ngạc và đang được các chuyên gia đánh giá là một xu thế dinh dưỡng của thế kỷ 21 [100]. Không chỉ là thuốc hoặc thực phẩm chức năng, xu thế mỹ phẩm dùng nguyên liệu từ thiên nhiên thay thế nguyên liệu tổng hợp đã chiếm hơn 70% tổng nhu câu.
Đây là một thị trường có tốc độ tăng trưởng hàng năm khá cao trong khoảng S-l0%/năm [115]. Năm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm Đông - Nam Á, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật hết sức phong phú và đa dạng, trong đó có 5.117 loài thực vật và nấm lớn được dùng làm thuốc [52]. Nhiều thập kỷ qua, nguyên liệu từ nguồn cây thuốc đã góp phân quan trọng trong việc cung cấp thuốc chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và đê xuất khẩu. Nhu câu dược liệu ở nước ta ngày càng cao, nhu câu năm 2004 là gân 50.000 tấn [55], năm 2005 là gân 60.
Trước đây, Việt Nam đã từng là quốc gia xuất khẩu dược liệu thu được nhiều ngoại tệ, nhưng giờ đây trong hơn 60.000 tấn dược liệu sử dụng hàng năm thì có tới S0-S5% phải nhập khẩu [117]. Trong khi đó, chính phủ Ản Độ đã có những chính sách hỗ trợ tích cực các công ty của họ đê cung ứng dược liệu ra thị trường thế giới, đem lại nguồn thu 1 tỷ USD tổng giá trị sản phẩm từ thảo dược Ản Độ và đóng góp gân 1% vào thị trường thảo dược toàn câu [74]; Hàn Quốc có khẩu hiệu “Toàn câu hóa thuốc cổ truyền Hàn Quốc” nhăm chia sẻ 5% thị phân CAM quốc tế vào năm 2017 [79]. Rõ ràng, chúng ta đang lãng phí và đang làm mất dân một nguồn tài nguyên có giá trị rất lớn, nguồn tài nguyên có thê tái tạo không những đem lại lợi ích cho chúng ta hôm nay mà đem lại lợi ích cho các thế hệ mai sau cả về sức khỏe, kinh tế, môi trường và xã hội.Như vậy, phát triên dược liệu Việt Nam là nhiệm vụ mang tâm vóc chiến lược quốc gia. 1 luan an Tuy nhiên, việc phát triên dược liệu Việt Nam vân chưa xứng với tiềm năng vốn có; quy mô sản xuất, chế biến, sử dụng còn nhỏ, manh mún, chưa hiệu quả; một số dược liệu quý hiếm có nguy cơ cạn kiệt; kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế; chưa có nhiều chính sách phù hợp nhăm phát triên ngành dược liệu [17] mà một trong những nguyên nhân cốt lõi là thiếu mô hình phát triên dược liệu hiệu quả thích ứng với bối cảnh hiện nay.
Những năm qua, nhiều mô hình phát triên cây trồng nói chung và cây thuốc nói riêng đã được nhắc nhiều và áp dụng ở một mức độ nhất định trong nước như mô hình chuỗi liên kết, mô hình trồng cây thuốc dưới tán rừng, đặc biệt mô hình «liên kết 4 nhà» [55,56],. Mặc dù vậy, hiện chưa có nghiên cứu về mô hình nào được thực hiện một cách có hệ thống, trên cơ sở lý luận chặt chẽ, triên khai mô hình một cách khoa học và đánh giá hiệu quả của mô hình. Cây thuốc Actisô năm trong danh mục các loài dược liệu tập trung phát triên quy mô lớn và Sa Pa - Lào Cai là vùng núi cao có khí hậu á nhiệt đới, được chọn là vùng trọng điêm trồng cây thuốc này [14]. Actisô được sử dụng phổ biến làm thuốc, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, mỹ phẩm và là cây cho hiệu quả kinh tế cao.
Tại Sa Pa - Lào Cai, liên kết phát triên dược liệu Actisô đã được các hộ nông dân áp dụng và triên khai một số năm qua. Đến năm 2012, chính quyền huyện đã ban hành kế hoạch phát triên vùng trồng cây dược liệu hàng hóa tập trung có sự liên kết của 4 nhà: Nhà nông, Nhà doanh nghiệp, Nhà khoa học, Nhà nước [65]. Thực tế cho thấy mô hình liên kết phát triên dược liệu Actisô đã đem lại hiệu quả kinh tế, tuy nhiên việc phá vỡ hợp đồng vân diễn ra, sản lượng dược liệu nông dân cung cấp chỉ đáp ứng phân nhỏ nhu câu của doanh nghiệp. Chưa có sự liên kết thực sự giữa 4 nhà, trong đó vai trò của nhà khoa học còn mờ nhạt.
Nhiều trường hợp liên kết chưa mang tính tự nguyện, hợp tác vì trách nhiệm mà chưa vì lợi ích, dần đến khó bền vững trong dài hạn. Do vậy, các câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: thực trạng liên kết đang diễn ra như thế nào? Mối liên kết đó tác động nhu thế nào đến các đối tượng tham gia liên kết? Nhu câu liên kết của các đối tượng với nhau như thế nào, về vấn đề gì? Thực trạng liên kết đó gặp những tồn tại, hạn chế gì cấn giải quyết, tháo gỡ? Thực tế xuất hiện những mô hình liên kết hiệu quả gì có thê nhân rộng? Cân thực hiện những giải pháp gì đê nhăm tăng 2 luan an cường mối liên kết phát triển dược liệu Actisô tại Sa Pa - Lào Cai?.Những câu hỏi đó rất cần được quan tâm, tiến hành nghiên cứu. Chính vì thế, đề tài “Đánh giá hiệu quả mô hình liên kết phát triển dược liệu Actisô tại Sa Pa - Lào Cai” được thực hiện với hai mục tiêu chủ yếu: 1. Phân tích thực trạng liên kết phát triển dược liệu Actisô tại Sa Pa - Lào Cai giai đoạn 2012 - 2014.
Đánh giá hiệu quả giải pháp tăng cường liên kết 4 nhà (Nhà nông, Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà doanh nghiệp) phát triển dược liệu Actisô tại Sa Pa - Lào Cai giai đoạn 2015 - 2017. 3 luan an CHƯ ƠNG 1. TỔ NG QUAN 1. Những vấn đề lý luận chung 1.
M ột số khái niệm liên quan y Mô hình Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học, “Mô hình (model) là cách trình bày thực tế dưới dạng tóm tắt thành khung hình thức, thể hiện những đặc điểm cơ bản của một hệ thống phức tạp bằng một số quan hệ cơ bản” [72]. Nói cách khác, mô hình là một cách thức mô tả, thực hiện một sự vật, hiện tượng hay một quá trình nào đó và được đơn giản hóa bằng việc loại bỏ những chi tiết không quan trọng và giữ lại những chi tiết quan trọng nhất nhằm ứng dụng kết quả mô hình trong thực tiễn. Trong dược liệu học (Pharmacognosy), “mô hình (paradigm) là một tập hợp các giả định, các khái niệm, các giá trị và các thực hành tạo nên một cách nhìn thực tế cho cộng đồng chia sẻ chúng, đặc biệt theo qui luật mang tính học thuyết” [82,83]. Mô hình còn được hiểu là ví dụ điển hình hoặc kiểu mẫu điển hình [84].
> Phát triển bền vững “Phát triển bền vững” (Sustainable development) là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường [49]. Về bản chất, “phát triển bền vững” là một quá trình thay đổi trong việc khai thác các nguồn lực, xu hướng đầu tư, định hướng phát triển công nghệ; và thay đổi thể chế tất cả trong sự hài hòa và tăng cường cả khả năng hiện tại cũng như tương lai để đáp ứng nhu cầu và khát vọng con người [76,90]. > Liên kết Khái niệm liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ thống thuật ngữ kinh tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể. Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hóa và gần đây mới gọi là liên kết [73].
> Liên kết kinh tế 4 luan an Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học của Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa (2001): “liên kết kinh tế là hình thức hợp tác, phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước. Mục tiêu là tạo ra mối liên kết kinh tế ổn định thông qua các hoạt động kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường tiêu thụ chung, bảo vệ lợi ích cho nhau” [72]. Trong kinh tế, “liên kết” được hiểu là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất [19]. > Liên kết kinh doanh Những chủ thể trong chuỗi giá trị có quan hệ với nhau theo cả chiều ngang (giữa các doanh nghiệp trong cùng một khâu của chuỗi giá trị, có cùng một loại hoạt động) lẫn chiều dọc (giữa các nhà cung cấp và người mua hàng hóa).
Những liên kết kinh doanh theo chiều dọc có thể là những trao đổi ngẫu nhiên trên thị trường, cũng có thể là việc phối hợp một cách bài bản các hoạt động dựa trên việc ký kết hợp đồng. Những liên kết kinh doanh theo chiều ngang có thể là những mạng lưới không chính thức, cũng có thể là những hiệp hội và các tổ chức có thành viên chính thức [113]. > Chuôi giá trị (Value chain) Một chuôi giá trị là: Một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, đến việc cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng (đây là quan điểm theo chức năng đối với chuỗi giá trị) [113]. Là một loạt các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng này, có nghĩa là nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà buôn bán, và nhà phân phối một sản phẩm cụ thể nào đó.