Tổng quan nghiên cứu

Làn sóng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam đang ghi nhận những bước phát triển vượt bậc. Báo cáo của ESP Capital và Cento Ventures chỉ ra rằng Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ ba trong khu vực ASEAN về tốc độ tăng trưởng hệ sinh thái khởi nghiệp, thu hút khoảng 17% tổng nguồn vốn đầu tư mạo hiểm toàn khu vực, tăng mạnh so với mức 5% của năm 2018. Song song đó, Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu của WIPO xếp hạng Việt Nam ở vị trí 42 trên 129 quốc gia. Dù cả nước có gần 2.500 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, 48 cơ sở ươm tạo và 23 tổ chức thúc đẩy kinh doanh, nguồn lực này lại tập trung chủ yếu tại Hà Nội với 42,4% và Thành phố Hồ Chí Minh với 42,5%. Thực trạng này đặt ra thách thức lớn cho các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như tỉnh Tây Ninh.

Tại Tây Ninh, quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2020 theo giá thực tế ước đạt 87.908 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 3,98%. Dù ghi nhận 700 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (tăng 6,38%), tỉnh cũng đối mặt với 445 doanh nghiệp giải thể (tăng đột biến 202,72% so với cùng kỳ), cùng quy mô vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp giảm 11,98%, chỉ còn 13,6 tỷ đồng. Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trên địa bàn gặp khó khăn nghiêm trọng về năng lực quản trị, tiếp cận thị trường và thiếu hụt mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp chuyên sâu.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Ngọc Giang tập trung nghiên cứu toàn diện chính sách thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đối với DNNVV trên địa bàn tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn từ năm 2016 đến tháng 10 năm 2021. Mục tiêu cốt lõi là đánh giá tác động thực tế của khung chính sách vĩ mô lẫn vi mô, nhận diện các nút thắt cản trở, từ đó kiến nghị hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm giảm tỷ lệ giải thể doanh nghiệp, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh và đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững giai đoạn 2021-2025 tầm nhìn 2030 của tỉnh Tây Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế và đổi mới sáng tạo của Joseph Schumpeter (1934), khẳng định khởi nghiệp là quá trình tạo ra các kết hợp sản xuất mới để phá vỡ thế cân bằng cũ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cùng với đó, tác giả sử dụng khung lý thuyết hệ sinh thái khởi nghiệp của Daniel Isenberg (2010) và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2014) gồm các trụ cột then chốt: Chính sách và thể chế pháp lý, Tài chính và nguồn vốn, Văn hóa khởi nghiệp, Mạng lưới hỗ trợ và cố vấn, Nguồn nhân lực, và Thị trường.

Nghiên cứu cũng tích hợp bộ chỉ số khởi nghiệp toàn cầu (GEM) gồm 12 tiêu chí đánh giá môi trường khởi sự kinh doanh do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) triển khai. Về mặt pháp lý, luận văn dựa trên khung phân loại DNNVV theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP và Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, chia tách doanh nghiệp thành ba cấp độ siêu nhỏ, nhỏ và vừa dựa trên tiêu chuẩn lao động tham gia bảo hiểm xã hội (dưới 10 người, dưới 100 người, dưới 200 người) và tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn (không quá 3 tỷ, 50 tỷ hoặc 100 tỷ đồng).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu học thuật:

Dữ liệu thứ cấp được thu thập và xử lý từ niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2015-2021, các báo cáo kinh tế - xã hội của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh, cùng các báo cáo GEM Việt Nam các năm 2013, 2015 và 2017 của VCCI.

Dữ liệu sơ cấp được tiến hành thu thập từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2021 thông qua khảo sát bảng hỏi chuẩn hóa theo thang đo Likert 5 mức độ. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 185 đối tượng hợp lệ, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, bao gồm 115 chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa mới khởi sự kinh doanh và 70 nhân sự, cá nhân có ý định khởi nghiệp tại địa bàn tỉnh Tây Ninh. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu và tổng hợp định lượng được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với từng nhóm chính sách công, đồng thời phản ánh khách quan khoảng cách giữa nhu cầu thực tế của doanh nhân với năng lực cung ứng dịch vụ hỗ trợ của bộ máy hành chính địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ thành lập doanh nghiệp mới tại Tây Ninh thiếu tính bền vững và đối mặt rủi ro giải thể cao. Giai đoạn 2015-2020 ghi nhận sự tăng trưởng số lượng doanh nghiệp nhưng chất lượng vốn suy giảm. Năm 2020, toàn tỉnh có 700 doanh nghiệp mới với tổng vốn đăng ký 9.520 tỷ đồng (giảm 6,36% về vốn), trong khi số doanh nghiệp giải thể lên tới 445 đơn vị (tăng 202,72%). Tỷ lệ giải thể trên số thành lập mới chạm mức đáng báo động là 63,57%.

Thứ hai, mức độ tiếp cận các nguồn vốn phi truyền thống của DNNVV tại Tây Ninh gần như bằng không. Toàn bộ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2020 đạt 34.917 tỷ đồng, trong đó khu vực nhà nước chiếm 5.850,87 tỷ đồng (tăng 30,30%), khu vực ngoài nhà nước đạt 16.954 tỷ đồng và khu vực FDI đạt 12.111,60 tỷ đồng. Tuy nhiên, hơn 92% vốn đầu tư của các startup vẫn phụ thuộc vào vốn tự có và vay mượn người thân. Tỉnh hoàn toàn vắng bóng các quỹ đầu tư mạo hiểm và mạng lưới nhà đầu tư thiên thần nội địa.

Thứ ba, các cấu phần hỗ trợ khởi nghiệp như vườn ươm, không gian làm việc chung (coworking space) và tổ chức thúc đẩy kinh doanh (accelerator) chưa hình thành đồng bộ. Kết quả khảo sát cho thấy 74,6% người khởi nghiệp đánh giá các chương trình đào tạo kỹ năng quản trị và tư vấn pháp lý còn mang tính phong trào, thiếu tính thực chiến và chưa hỗ trợ được quá trình đổi mới mô hình kinh doanh.

Thứ tư, mối liên kết giữa cơ sở giáo dục đào tạo với cộng đồng doanh nghiệp địa phương còn lỏng lẻo. Chỉ có khoảng 11,2% doanh nghiệp khảo sát từng tiếp cận hoạt động chuyển giao công nghệ hoặc tuyển dụng được nhân sự kỹ thuật chất lượng cao từ các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp tại địa bàn tỉnh.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích thực trạng, các phát hiện nghiên cứu có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ hình cột so sánh tốc độ gia tăng doanh nghiệp giải thể so với doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2015-2020, kết hợp với bảng ma trận đánh giá 12 chỉ số GEM của Tây Ninh so với trung bình cả nước. Kết quả phản ánh rõ rệt sự tụt hậu về chỉ số tài chính khởi nghiệp và dịch vụ hỗ trợ thương mại.

Nguyên nhân căn bản xuất phát từ việc các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương chủ yếu tập trung vào cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh ban đầu (khâu gia nhập thị trường) mà chưa có chính sách hậu kiểm và nuôi dưỡng doanh nghiệp sau thành lập. Bên cạnh đó, hiệu ứng hút nguồn lực từ trung tâm kinh tế liền kề là Thành phố Hồ Chí Minh khiến dòng vốn mạo hiểm và nhân lực chất lượng cao của Tây Ninh có xu hướng dịch chuyển ra bên ngoài.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của tác giả Hà Kiên Tân (2019) về ý định khởi nghiệp hay tác giả Trần Nha Ghi (2019) về mạng lưới quan hệ và đổi mới mô hình kinh doanh, kết quả tại Tây Ninh tái khẳng định rằng nếu thiếu một môi trường chính sách công năng động và mạng lưới liên kết trung gian, tinh thần khởi sự kinh doanh của cá nhân sẽ nhanh chóng bị dập tắt trước những rào cản tài chính và thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp cho DNNVV tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp đột phá:

Thứ nhất, thành lập Hội đồng Điều phối Mạng lưới Khởi nghiệp và Vườn ươm Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh theo mô hình hợp tác công tư (PPP). Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư triển khai ngay trong giai đoạn 2022-2023, đặt mục tiêu ươm tạo thành công ít nhất 30 dự án khởi nghiệp sáng tạo mỗi năm, tập trung vào nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến.

Thứ hai, thiết lập Quỹ hỗ trợ khởi nghiệp và cơ chế đồng đầu tư vốn mồi. Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh chỉ đạo Sở Tài chính phân bổ nguồn vốn ngân sách mồi khoảng 15 đến 20 tỷ đồng trong giai đoạn 2022-2024 để bảo lãnh tín dụng và tài trợ không hoàn lại một phần kinh phí R&D, hoàn thiện sản phẩm mẫu cho các startup tiềm năng.

Thứ ba, đơn giản hóa tối đa quy trình hành chính và cung cấp gói dịch vụ hỗ trợ pháp lý, thuế tập trung. Cục Thuế và Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh cần rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục liên thông xuống dưới 48 giờ làm việc, đồng thời thực hiện miễn giảm chi phí tư vấn sở hữu trí tuệ và kế toán thuế cho 100% doanh nghiệp siêu nhỏ trong 2 năm đầu thành lập.

Thứ tư, lan tỏa văn hóa khởi nghiệp và liên kết đào tạo thực tiễn. Tỉnh đoàn Tây Ninh phối hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức thường niên sự kiện Techfest Tây Ninh, định kỳ trao giải thưởng ý tưởng sáng tạo và đưa nội dung quản trị kinh doanh vào 100% chương trình đào tạo nghề từ năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cán bộ hoạch định chính sách tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Tây Ninh. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn chuẩn xác để xây dựng các đề án hỗ trợ DNNVV và chương trình đổi mới sáng tạo địa phương.

Nhóm 2: Các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, sáng lập viên startup trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và vùng Đông Nam Bộ. Luận văn cung cấp bức tranh toàn cảnh về môi trường kinh doanh, giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro tài chính và khai thác các kênh hỗ trợ chính sách hiện hành.

Nhóm 3: Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị kinh doanh. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá hệ sinh thái khởi nghiệp cấp tỉnh dựa trên khung lý thuyết Isenberg và bộ công cụ GEM.

Nhóm 4: Các tổ chức ươm tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp. Luận văn phác thảo chi tiết tiềm năng thị trường, cơ cấu ngành công nghiệp chế biến và nông nghiệp tại Tây Ninh, mở ra cơ hội thiết lập mạng lưới đầu tư thiên thần đón đầu dòng dịch chuyển kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

Hệ sinh thái khởi nghiệp của tỉnh Tây Ninh có những điểm đặc thù nào so với các đô thị lớn? Tây Ninh có thế mạnh về nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế cửa khẩu nhưng quy mô thị trường nội tỉnh nhỏ, thiếu vắng các trường đại học đa ngành và quỹ đầu tư mạo hiểm. Tỷ lệ tập trung doanh nghiệp công nghệ còn thấp, phần lớn DNNVV hoạt động trong lĩnh vực gia công, chế biến và thương mại truyền thống.

Tại sao số lượng doanh nghiệp giải thể tại Tây Ninh năm 2020 lại tăng vọt 202,72%? Sự gia tăng đột biến này do tác động kép của đại dịch Covid-19 và điểm yếu nội tại của các DNNVV như vốn mỏng (trung bình 13,6 tỷ đồng/doanh nghiệp), đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu và thiếu năng lực chuyển đổi mô hình kinh doanh số để thích ứng với thị trường.

Luận văn đánh giá như thế nào về hiệu quả của các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hiện hành tại địa phương? Các chính sách của tỉnh bước đầu tạo thuận lợi ở khâu đăng ký kinh doanh và cấp phép đầu tư (năm 2020 cấp mới cho 41 dự án trong nước). Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ tài chính trực tiếp, đào tạo chuyên sâu và kết nối vườn ươm vẫn chưa tiếp cận được phần lớn cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp.

Tây Ninh có thể học hỏi bài học cụ thể nào từ các tỉnh lân cận như Long An và Đồng Nai? Tây Ninh cần học tập Long An trong việc thành lập Hội đồng điều phối mạng lưới khởi nghiệp và vận hành Vườn ươm doanh nghiệp theo cơ chế công tư kết hợp; đồng thời tiếp thu mô hình tổ chức ngày hội Techfest thường niên và cuộc thi khởi nghiệp gắn với hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm của Đồng Nai.

Chính sách nào mang tính cấp bách nhất cần triển khai ngay cho DNNVV tại Tây Ninh? Giải pháp cấp bách nhất là hình thành Quỹ đầu tư mồi của tỉnh kết hợp với các gói dịch vụ hỗ trợ pháp lý, kế toán miễn phí trong 24 tháng đầu nhằm giảm thiểu áp lực chi phí cố định, giúp hạ thấp tỷ lệ giải thể doanh nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về hệ sinh thái khởi nghiệp và lượng hóa thành công các nhân tố tác động đến DNNVV tại địa bàn cấp tỉnh.
  • Công trình phản ánh trung thực thực trạng kinh tế Tây Ninh năm 2020 với 700 doanh nghiệp thành lập mới nhưng có tới 445 doanh nghiệp giải thể, chỉ rõ điểm nghẽn về vốn và mạng lưới ươm tạo.
  • Tác giả đề xuất 4 nhóm chính sách khả thi, lấy mô hình vườn ươm công tư và quỹ vốn mồi làm đòn bẩy trung tâm cho giai đoạn 2021-2025.
  • Lộ trình thực thi được phân kỳ cụ thể với sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ cùng cộng đồng doanh nhân.
  • Các nhà quản lý chính sách và doanh nghiệp khởi nghiệp hãy khai thác ngay luận văn này để ứng dụng xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh và thể chế hóa các giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp hiệu quả tại địa phương.