Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế chính sách thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh tây ninh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý kinh tế chính sách thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2021

108
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hệ sinh thái khởi nghiệp tại Tây Ninh

Hệ sinh thái khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Tây Ninh. Đặc biệt, khởi nghiệp tại Tây Ninh đang được chú trọng nhằm thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế địa phương. Theo nghiên cứu, một hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh mẽ không chỉ tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Việc xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp cần có sự hỗ trợ từ chính sách của nhà nước, các tổ chức tài chính và cộng đồng doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp thúc đẩy khởi nghiệp và tạo ra môi trường thuận lợi cho các ý tưởng kinh doanh mới.

1.1. Tầm quan trọng của hệ sinh thái khởi nghiệp

Hệ sinh thái khởi nghiệp không chỉ là nơi nuôi dưỡng các ý tưởng mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các yếu tố như hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, đổi mới sáng tạo, và tăng cường đầu tư là những yếu tố then chốt trong việc xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp hiệu quả. Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), các quốc gia có hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển thường có tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn và tăng trưởng kinh tế cao hơn. Điều này cho thấy rằng việc đầu tư vào hệ sinh thái khởi nghiệp là một chiến lược thông minh cho sự phát triển kinh tế địa phương.

II. Thực trạng hệ sinh thái khởi nghiệp tại Tây Ninh

Thực trạng hệ sinh thái khởi nghiệp tại Tây Ninh hiện nay cho thấy nhiều tiềm năng nhưng cũng không ít thách thức. Mặc dù có sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn và các dịch vụ hỗ trợ. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tây Ninh chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp, nhưng chỉ có một phần nhỏ trong số đó có khả năng phát triển bền vững. Điều này cho thấy cần có những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hiệu quả hơn để giúp các doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ sinh thái khởi nghiệp

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp tại Tây Ninh, bao gồm chính sách hỗ trợ từ chính phủ, sự kết nối giữa các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính. Các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hơn nữa, việc xây dựng các mô hình kinh doanh linh hoạt và sáng tạo cũng là yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay.

III. Giải pháp thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp

Để thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp tại Tây Ninh, cần có một loạt các giải pháp đồng bộ. Đầu tiên, cần tăng cường đầu tư vào các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, bao gồm việc cung cấp vốn vay ưu đãi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ hai, cần xây dựng các cộng đồng khởi nghiệp để kết nối các doanh nhân, nhà đầu tư và các chuyên gia trong lĩnh vực. Cuối cùng, việc nâng cao nhận thức về khởi nghiệpđổi mới sáng tạo trong cộng đồng cũng là một yếu tố quan trọng giúp phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp tại Tây Ninh.

3.1. Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp

Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cần được thiết kế để tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chính sách này có thể bao gồm việc giảm thuế cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, cung cấp các khóa đào tạo về quản lý và kinh doanh, và tạo ra các quỹ đầu tư mạo hiểm. Theo các chuyên gia, việc thực hiện các chính sách này sẽ giúp thúc đẩy khởi nghiệp và tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân địa phương.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Tác giá cũng phân tích các yếu tổ ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp và thúc đây hệ sinh thái khởi nghiệp. “Trong chương này tác giả cũng đưa ra các bài học kinh nghiệm về thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp ở một số quốc gia trên thể giới. Chương 2: Phân tích thực trạng chính sách thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tạ tỉnh Tây Ninh. Chương 3: Đề xuất các giải pháp để thúc đây hệ sinh thái khởi nghiệp đổi với cdoanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bản tính Tây Ninh Kết luận.

Chwrong 1 'CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THUC DAY HE SINH THAI KHOL NGHIỆP ĐÓI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA.Một số khái niệm. Khái niệm về khối nghiệp. Khởi nghiệp (Entrepreneurship) là một khái niệm đa chiều, tương đổi phức tap, chưa thống nhất và được địch và hiểu theo nhiều cách khác nhau như: tỉnh thằn khởi nghiệp, khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh. Trong luận văn nảy sẽ sử dụng thuật ngữ "khởi nghiệp”.

VỀ mặt học thuật, theo Schumpeter (1934), khoi nghiệp là tạo ra các kết hợp mới. Với Cole (1968), khởi nghiệp lä một hoạt động có mục đích 448 khởi đầu, duy trì và phát on hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích về ti chính hay các lợi ích khá c tong kinh doanh mà thế giới đó sẽ tạo ra một sự tự do cho chính người thực hiện hoạt động này. Côn Kirzner Israel (1973), khối nghiệp là khả năng để phát biện và khai thác các mỗi lợi tử sự khác biệt về giá giữa các thị trường. Trong khi Shapero & Sokol (1982) cho rằng, khởi nghiệp là quá trình mà cá “nhân sẵn sằng tiên phong trong việc nấm bắt các cơ hội kinh doanh hip din vi khả ‘thi ma họ nhận biết được.

Krueger & Brazeal (1994) cho rằng, khi nghiệp là việc mở một doanh nghiệp mới (siart a new business; new venture ereation), hay Khoi nghiệp là tỉnh thin doanh nhân (entrepreneurship), còn Chen (2009) thì cho rằng, khởi nghiệp là tự làm chủ, tự kinh doank (self employment) XMột số nghiên cứu của Bird (1988) và Baron (1998) cho rằng, khởi nghiệp là một quá trình, đó là kết quả của một loạt các sự kiện, hành động có trình tự nhất định và chịu tác động bởi nhiều yếu tố. Còn theo Shane& Venkataraman (2000), khởi nghiệp là quá trình nhân dạng, đánh giá và khai thắc cơ hội kinh doanh. Đây là một định nghĩa theo quá trình, xác nhận việc sing tao cai ti là thể hi của khởi nghiệp, nhắn mạnh đến người thực hiện (bởi ai phương thức thực hiện (bằng cách cào?) các sắng tạo cải tiến sác ảnh hưởng của các sắng tạo cải tiến này. Khởi nghiệp theo hướng ngi cứu của các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động cho rằng khởi nghiệp là một sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình.

Theo Kolvereid khởi nghiệp nên gắn với thuật ngữ “tự tạo việc lâm”. Như vậy, khỏi nghiệp là lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro, tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình và thuê người khác làm công cho họ. Làm thuê được hiểu là cá nhân sẽ làm cho một cdoanh nghiệp hoặc tổ chức do người khác làm chủ, do vậy khởi nghiệp kinh doanh nghĩa là tự làm chủ và thuê người khác làm việc cho mình. Như vậy khái niệm khởi nghiệp theo nghĩa tự tạo việc làm và theo nghĩa tỉnh thần doanh nhân có sự khác biệt.

Theo nghĩa tự tạo việc làm, doanh nhân tự lâm chủ chính mình, không đi làm thuê cho ai cá, trong khi theo m ta tỉnh thần doanh nhân, các doanh nhân có thể thành lập doanh nghiệp mới, thuê người quản lý doanh nghiệp cho mình, còn bản thân có thể đi làm thuê cho doanh nghiệp khác. Từ đó có thể khái niệm: “Khởi nghiệp là tân dụng cơ hội thị trưởng để bắt đầu một công việc kinh doanh mới, nhằm làm chủ-tự mình điều hành công việc kinh doanh hoặc thuê người quan lý, với mục đích mang lại giá tri cho bản thân cũng như nhiều lợi ích cho xã hội”. Khái niệm về hệ sinh thái khối nghiệp Phong trào khởi nghiệp ở Việt Nam trong những năm gần đây đã và đang phát triển mạnh mẽ. Cùng với đó là sự hình thành vã phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp.

“Có thể thấy, trên thể giới đã có nhiều khái niệm về hệ sinh thái khỏi nghiệp. Khai niệm hệ sinh thái khởi nghiệp bắt đầu từ James Moore dat ra trong bai báo trên Tạp. chí kinh doanh Harard những năm 1990, trong 46 chi ra vige tương tác các doanh nghiệp với các nhà cung ứng, khách hàng, các nhà cung cấp dịch vụ tài chính (Moore, 1995) Khái iêm về một hệ sinh thái khởi nghi được đỀ cập đến sự tương tác diễn ra giữa các bên tổ chức liên quan và các cá nhân nhằm thúc tinh thần kinh doanh, đổi mới và tăng trưởng doanh nghiệp NVV (Isenberg, 2010). Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development-OECD), Hệ sinh thái khởi nghiệp là “tổng hợp các mối liên kết chính.

thức và phi chính thức giữa: các chủ thể khởi nghiệp (tiềm năng hoặc hiện ti chức khởi nghiệp (công ty, nhà đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, hệ thống ngân hàng,.); và các cơ quan liên quan (trường đại học, các cơ quan nhà nước, các ‘quy đầu tư công.) và tiến trình khởi nghiệp (t lệ thành lập doanh nghiệp, số lượng cdoanh nghiệp có tỉ lệ tăng trưởng tốt, số lượng các nhà khởi nghiệp.) tác đông trực tiếp đến môi trường khởi nghiệp tại địa phương” (Mason,& Brown, 2014). “Theo định nghĩa của Diễn đản Kinh tế Thé gidi (World Economic Forum), hệ sinh thái khởi nghiệp cũng được hiểu là các điều kiện, môi trường trong đó các cénhin, 18 chức, doanh nghiệp và xã hội đến với nhau để thúc đây sự thịnh vượng và phồn vinh của nền kinh tế (WEF - 2014). Hệ sinh thái khởi nghiệ bao gồm các yếu tổ sau: (0) Thị trường; (i) Nguồn nhân lực; (ii) Nguẫn vốn và tài chỉnh; (Iv) Hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp (tư vắn,.); (v) Khung pháp lý và cơ sở ha tin x (vi) Giáo cđục và đào tạo; (vi) Các trường đại học, học viên; (vii) Văn hóa quốc gia “Tóm lại, hệ sinh thái khởi nghiệp (Startup ecosystem) bao gồm các cá nhân, nhóm các nhân khởi nghiệp và các chủ thể hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển, trong đó có các chính sách và luật pháp của nhà nước (về thành lập doanh nghiệp, thành lập tổ chức đầu tư mạo hiểm, thuế, cơ chế thoái vốn.); cơ sở hạ ting cdành cho khởi nghiệp (các khu không gian làm việc chung, cơ sở ~ vật chất phục vụ thí nghiệm, thử nghiệm để xây dựng sản phẩm mẫu.: vốn và tải chính (các quỹ cđầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư cá nhân, các ngân hàng, tổ chức đầu tư tài chính.); ‘van héa khởi nghiệp (văn hóa doanh nhân, văn hóa chịu rủi ro, mạo hiểm, văn hóa chấp nhận thất bại); các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp, các huấn. luyện viên khởi nghiệp và nhà tư vấn khởi nghiệp; các trường đại học; các khóa đào tạo, tập huấn cho cá nhân, nhóm cá nhân khởi nghiệp cũng như cho nhà đầu tư khởi nghiệp; nhân lực cho doanh nghiệp khởi nghiệp và cuối cùng là thị trường trong nước và quốc tế Hệ sinh thái khởi nghiệp được hiểu ở cấp độ kinh tế xã hội có đặc tính tự tổ chúc, khả năng mở rộng và tính bền vững như là sự tương tác giữa các thái độ, khả năng, khát vọng doanh nhân, bởi các cả nhân, dẫn đến việc phân bỗ yếu tổ thông cqua việc tạo ra và vận hành các doanh nghiệp mới” (Trần Quang Tiền, 2020) Giống như các hệ sinh thải trong môi trường tự nhiên, một đặc điểm của hệ sảnh thái khởi nghiệp là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thực thể khác nhau trong hệ sinh thái đó.

Nói cách khác, các hệ sinh thái không phải là các cá nhân hoặc nhóm. các nhân, mã là mỗi quan hệ giữa họ. Các thành phần chính của hệ sinh thái khéi nghiệp là các doanh nghiệp khởi nghiệp. Các thành viên khác được coi là một phần “của hệ sinh thải, bao gầm: các quỹ và các nhà đầu tư, các vườn ươm, các chương trình tăng tốc khởi nghigp (accelerator) vi các nhà cung cấp dịch vụ khác (cả nhà nước và tư nhân) cũng nh các quá trình, các sự kiện và các thực thể khác, "Dựa trên các định nghĩa được nêu trong các tài liệu nghiên cứu, trong khuôn.

khổ nghiên cứu này, hệ sinh thái được hiểu lã những tác nhân trong một môi trường cụ thể có quan hệ hữu cơ với nhau nhằm giúp nhau cùng phát triển, hay nói cách khác sự phát triển của tác nhân nây sẽ thúc day sự phát triển của các tác nhân khác để hệ sinh thái phát triển bền vững hơn. Khái niệm về Doanh nghiệp nhé và vừa (DNNVV) DNNVV hay SMEs (Small and Medium Enterprises) là những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở đưới một mức giới hạn nào đố. Hiện nay, chưa có một định nghĩa chung về DNNVV. Trên thể giới, tủy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, đặc điểm kinhtế - kỹ thuậ trình độ phát triển của ving lãnh thổ, mặt bằng, giá trị sức lao động, trị giá tải sản, thiết bị hay mục đích xếp loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định mã các nước có những tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV.

Do đó, việc xác định DNNVV này chỉ mang tính chất tương đối. Phần lớn khi xác định DNNVV, các qu gia đã dựa chủ yếu vào các tiêu chi sau: Số lượng lao động thường xuyên; số lượng vốn góp; doanh thu hàng năm; đặc điểm ngành nghề kinh doanh. “Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thể giới (World Bank), DNNVV có số lao động dưới 300 ngườ tải sản đưới 15 trí đồ la, doanh thu hàng năm không quá 15 triệu đô la hoặc có quy mô vay trung bình dưới 1 triệu đô la (dưới S2 triệu .đôla đối với một số quốc gia tiên tiến). Ngoài ra, tại mỗi quốc gia có nền kinh khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế thì quan niệm về DNNVV cũng khác nhau.

Chẳng hạn tại các quốc gia thuộc khối Liên minh Chau Au, DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng nhân viên đưới 250 người và doanh thu hàng năm là nhỏ hơn 50 triệu Euro.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tây Ninh" tập trung vào việc phát triển môi trường khởi nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Tây Ninh. Nội dung bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ, bao gồm các chính sách, nguồn lực và mạng lưới kết nối, nhằm giúp DNNVV phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc thúc đẩy khởi nghiệp không chỉ mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về các giải pháp và chính sách hỗ trợ cho DNNVV, bạn có thể tham khảo bài viết Giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Nghệ An, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, bài viết Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách tài chính cần thiết cho sự phát triển của DNNVV. Cuối cùng, bài viết Tăng cường tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên sẽ cung cấp thông tin hữu ích về việc tiếp cận nguồn vốn, một yếu tố quan trọng trong việc phát triển DNNVV.