CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến chính sách kinh tế của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh 1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước về chính sách kinh tế của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh 1. Các nghiên cứu nước ngoài về chính sách kinh tế của Nhà nước Chính sách kinh tế Nhà nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong điều hành hoạt động của các quốc gia.
Bởi vậy, trên thực tế đã có khá nhiều các nghiên cứu về vai trò của chính sách kinh tế Nhà nước. Adam Smith – nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh đã đưa ra thuyết “bàn tay vô hình” và “nguyên lý Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế”. Ông cho rằng, “việc tổ chức nền kinh tế hàng hoá cần theo nguyên tắc tự do” [83]. Hoạt động của toàn bộ nền kinh tế là do các quy luật khách quan tự nhiên chi phối, Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế thị trường, vào hoạt động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi những cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra thường xuyên từ năm 1929 đến năm 1933 đã cho thấy “bàn tay vô hình” không thể đảm bảo những điều kiện ổn định cho kinh tế thị trường, các nhà kinh tế học thấy rằng: cần có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình hoạt động của nền kinh tế, điều tiết nền kinh tế. J M Keynes đã đưa ra lý thuyết Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường. Theo trường phái Keynes Nhà nước can thiệp vào kinh tế ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Paul Samuelson – nhà kinh tế học người Mỹ lại cho rằng,” điều hành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay” [35].
Cơ chế thị trường xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có cả chính phủ điều tiết kinh tế thị trường bằng các chương trình thuế, chi tiêu và luật lệ. Cả hai bên thị trường và chính phủ đều có tính chất thiết yếu. 6 Tóm lại, vấn đề không phải là Nhà nước hay thị trường tốt hơn mà là thiết kế thể chế thế nào cho tốt nhất nhằm đảm bảo Nhà nước và thị trường bổ sung cho nhau nhằm đạt được những mục tiêu cốt lõi của Chính phủ trong việc phát triển con người, phát triển kinh tế mạnh và bền vững, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Các nghiên cứu của James Anderson, William Jenkin đưa ra các khái niệm, nội dung vai trò chính sách, chính sách công và cho rằng: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề” (2003) và “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” [98] Theo các tác giả Charle L.
Cochran and Eloise F. Malone (1995) lại khẳng định “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội”. Trong khi đó William N. Dunn (1992) lại nêu ra: “Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra” [97] Không chỉ đề cập đến các khái niệm, nội dung chính sách, các nghiên cứu của nhiều tác giả nước ngoài cũng đề cập đến vai trò, quy trình xây dựng và thực thi chính sách kinh tế.
Cụ thể: Milan Zeleny khi bàn về các tiêu chí đánh giá chính sách công cho rằng “Tiêu chí là thước đo, là các quy tắc và các chuẩn mực do các nhà phân tích, các nhà quản lý đặt ra trong từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chính sách” hoặc “Tiêu chí là những mốc tiêu chuẩn để đánh giá các chính sách công được lựa chọn như: chi phí, lợi ích, hiệu lực, sự bình đẳng và tính thời điểm” [93] Theo MacRae and Widle đưa ra 4 nhóm tiêu chí đánh giá chính sách công “Nhóm tiêu chí đánh giá tính khả thi về mặt chính trị; nhóm tiêu chí đánh giá tính khả thi về mặt tác nghiệp hành chính; nhóm tiêu chí đánh giá tính khả thi về mặt kỹ thuật; Nhóm tiêu chí đánh giá tính khả thi về mặt kinh tế tài chính” [91] GS. Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, khi chia sẻ góc nhìn về quy trình xây dựng chính sách, chiến lược của Việt Nam tại Diễn đàn phát triển Việt 7 Nam (2012). Có đánh giá: “Hệ thống chính sách của Việt Nam đến nay chưa thực sự đóng vai trò quan trọng vào thành tựu phát triển của đất nước” [48]. Theo Ông, “Việt Nam tồn tại nhiều vấn đề về chính sách, dù đã có bước tiến dài trong cải thiện môi trường đầu tư từ một xuất phát điểm thấp.
Việt Nam vẫn còn áp dụng một quy trình lập chính sách kì lạ, đó là phụ thuộc quá nhiều vào ý muốn của các nhà lãnh đạo và cơ quan quản lý. Chính phủ còn làm quá nhiều, cán bộ nhà nước phải xây dựng quá nhiều kế hoạch, chiến lược với nguồn lực hạn chế cả về tài chính và nhân lực, trong khi đó khu vực doanh nghiệp và người dân chưa được tham gia một cách tích cực, chủ động” [48]. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài về chính sách kinh tế của nhà nước cho thấy: Mặc dù, đã có nhiều nghiên cứu, tuy nhiên, các nghiên cứu phần lớn tập trung ở chính sách quốc gia, cấp ngành và có sự khác biệt về đặc điểm và điều kiện nghiên cứu cũng như chưa có nghiên cứu nào về các nhân tố tác động, mối quan hệ giữa CSKTvới NLCT của DN theo hướng tiếp cận từ tác động bởi chính sách kinh tế của Nhà nước. Các nghiên cứu trong nước về chính sách kinh tế của Nhà nước, chính sách kinh tế của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao NLCT Với Việt Nam hoạt động quản lý Nhà nước đóng vai trò quan trọng đảm bảo tính tập trung, thống nhất.
Các thể chế bao trùm đảm bảo rằng thị trường hoạt động hiệu quả và mở cửa với cạnh tranh, và cho phép người dân tham gia rộng rãi hơn với một hệ thống kiểm tra và đối trọng có hiệu quả, dẫn tới khả năng tiếp cận tốt hơn các cơ hội cho người dân và doanh nghiệp. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam. Chúng ta thấy rõ tính phi lý của cái gọi là “thị trường tự do”, “bàn tay vô hình”. Từ rất sớm, Đảng ta đã khẳng định, nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước.
Kiên trì tư tưởng đó, tại Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải “bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [82] GS TS Nguyễn Minh Thuyết (2011) định nghĩa: Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các 8 biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy. Cấu trúc của chính sách bao gồm: đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện. Chủ thể ban hành chính sách là: chính đảng, cơ quan quản lý Nhà nước, đơn vị, công ty. Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa” [76] GS TS Nguyễn Duy Gia (1998), trong đề tài khoa học cấp Nhà nước-mã số 95- 98-055/056 đã đưa ra khái niệm:” Chính sách công là một tập hợp các quyết định hành động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục đích xác định” cũng như “Chính sách công là một quá trình do nhiều người, nhiều tổ chức tham gia. Việc đề ra và thực thi chính sách công cũng như việc phân tích và đánh giá chính sách công là việc chung của nhiều người, nhiều tổ chức” [37] Trong đề tài khoa học cấp nhà nước của CIEM “Cơ sở khoa học cho việc định hướng chính sách và các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” do PGS TS-Lê Xuân Bá (Chủ nhiệm đề tài) cùng với việc nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh, đề tài còn tập trung nghiên cứu, rà soát, phân tích và đánh giá các chính sách có liên quan được thực thi trong thời gian qua ở Việt Nam và từ đó làm cơ sở để tìm kiếm, xây dựng và khuyến nghị thực hiện các chính sách, chiến lược hợp lý, có hiệu quả nhằm đảm bảo cho nền kinh tế Việt Nam có đủ sức để cạnh tranh với nền kinh tế ở các quốc gia khác trong bối cảnh hợp tác và hội nhập ngày càng lớn mạnh. Theo tác giả “ Nội dung các chính sách hướng đến: đảm bảo quyền tự chủ của người sản xuất và người tiêu dùng; tạo điều kiện cho việc dịch chuyển nguồn lực đến những nơi có hiệu quả cao nhất; tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có thể phản ứng linh hoạt đối với những biến động của thị trường và tiến bộ khoa học công nghệ; thúc đẩy đổi mới (công nghệ, sản phẩm, kênh tiêu thụ và sản xuất); đảm bảo 9 năng lực cạnh tranh lâu bền và phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam và các cam kết quốc tế.
Đặng Ngọc Lợi trong bài viết đăng trên Tạp chí Kinh tế và dự báo (số tháng 1 năm 2012) tuy không đưa ra định nghĩa về chính sách công nhưng cho rằng chính sách công là chính sách của Nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước.