Chương 1: Một sé vân dé lý luận vẻ doanh nghiệp, pháp luật về doanh nghiệp và nhu cầu sửa đổi Luật Doanh nghiệp (2014). Chương 2: Những sửa đỗ: cơ bản của Luật Doanh nghiệp 2020 và tác đông tới hoạt động doanh nghiệp ở Việt Nam. Chương 3: Một số kiến nghị hoan thiện pháp luật vả nông cao hiệu quả thực hiện pháp luật về doanh nghiệp CHUONG I: MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE DOANH NGHIỆP, PHAP LUẬT VE DOANH NGHIỆP VÀ NHU CAU SỬA ĐỎI LUẬT DOANH NGHIỆP (2014) 11. Một số vấn để lý luận về doanh nghiệp và pháp luật về doanh.
Khái niệm và đặc diém của doanh nghiệp 1111. Khải niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nên kinh tế, là bộ phân. chủ yên góp phẩn tạo ra GDP. Những năm gin đây, cùng với sự gia nhập mạnh mé nên kinh tế thi trường, hoạt đồng của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biển, giải phóng sức sản xuất , góp phân quyết định vào phục héi va tăng trưởng kinh té, tao ra nguồn thu ngân sách chủ yếu vả tham gia giãi quyết có hiệu quả các vấn dé 2 hội như : tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, xa đối, giảm nghèo.
Bên canh đỏ, doanh nghiệp cũng là yêu tổ quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cầu lớn của nên kinh tế quốc dân như : Cơ cầu nhiều thành phan kinh tế, cơ cầu ngành kinh tế, cơ cầu kinh. tẾ giữa các vùng, dia phương, Do vay ma khái niệm doanh nghiệp ngoài việc xem xét đười góc độ pháp lý còn cần được xem xét từ góc độ kinh tế - xã hội để được hiểu một cách sâu sắc và toân điện nhất. Trên phương diên lý thuyết có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp, tùy thuộc vào quan niệm hay cách nhìn, cách tiếp cận khác nhau về vai trỏ, vi trí hay chức năng của một doanh nghiệp trong hội Theo MFrancois Peroux “doanh nghiệp là một don vị tổ chức sản xuất mà tat đó người ta kết hợp các yếu tổ sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yễu tổ) khác nhan do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bảm ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dich vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ay Còn theo quan điểm phát triển trong sách “Kinh tế doanh nghiệp” của DLanaA Caillat - nhà xuất bản Khoa học sã hội năm 1992 định ngiĩa- “đoanh nghiệp là một công đồng người sản xuất ra những của cãi. Nó sinh ra phát triển, có nhitng that bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời Bp ngng kích và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi Rồi tiêu vơng do gặp phải những khó khẩm không vượt qua được.
Thực chất thi doanh nghiệp là khái niệm chung nhất dé chỉ các loại "hình doanh nghiệp, trong đỏ công ty là một loại hình doanh nghiệp vả nó rất phổ biển. Trên thé giới, so với các loại hinh doanh nghiệp khác, thi công ty xuất hiện muộn hơn, vào khoảng giữa thé kỹ 19. Trước đó, các hoạt động kinh doanh thực hiện dưới hình thức hợp danh hoặc doanh nghiệp tw nhân Cũng kể từ thé kỹ 19 và đặc biệt trong nữa đâu thé kỹ 20, công ty lả loại hình kinh doanh phát triển manh mẽ nhất. Nhiễu nước trên thể giới hiện nay, thay ‘vi thiết lập luật doanh nghiệp, đã thiên về quy định tổ chức vả hoạt động của các loại hình công ty.
Theo quan điểm của các nước tư bản, công ty lả một tổ chức kinh tế được thành lập theo vốn, thảnh viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm vẻ trái vụ của công ty trong phạm vi số vẫn mã thảnh viên đỏ góp vào công ty. Công ty được thành lêp dựa trên một thỏa thuận về quản lý điều hành, thường gọi la điểu lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán để huy động von vả được thừa nhận là pháp nhân ở hẳu hết các nước Nhu vay, dù đính nghĩa ở góc độ mở rông là doanh nghiệp hoặc xem xét ở góc độ hep 1a công ty, thi hình thức thể hiện phổ biển nhất của doanh. nghiệp là một tổ chức kánh tế va mục dich chủ yếu nhất của nó là kinh doanh, Trong Tiếng Anh, theo từ điển * Black’s law dictionary” doanh nghiệp —Enterprise có nghĩa là hoạt động kinh doanh. Còn trong từ điểm Tiếng Việt định nghĩa doanh nghiệp là một hình thức tổ chức kinh tế “ Iéna công việc kinh doanh”.
Như vậy, có thé nói đặc trưng riêng có để phân biệt doanh nghiệp với các đơn vị, tổ chức khác như các tổ chức zã hội, cơ quan nha nước chính là doanh nghiệp luôn hướng tới mục đích 1a lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Dưới góc đô pháp lý và quản lý nha nước, khái niệm “doanh nghiệp” được pháp luật quy định với những đặc trưng riêng tại các văn bản quy phạm pháp luật. Luật Công ty năm 1990 định ngiấa doanh nghiệp là ` một đơn vi kinh doanh được thành lập nhằm muc đích cỉủ yéu là thực hiện các hoạt động kinh doanh". Có thé thay rằng với cách nhìn nhận khái niệm doanh nghiệp ở Luật Công ty 1990 thi tắt cả những đơn vị kinh doanh có hoạt động kinh doanh sẽ được công nhân là doanh nghiệp, ngoài ra thì Luat Công ty 1990 chưa đưa ra những đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp.
doanh nghiệp dẫn được hoàn thiên hơn khí Luật doanh nghiệp 1999 và Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật doanh nghiệp 2014 được ban hanh. Theo đó * doanh nghiệp là inte có tên riêng có tài sẵn, có trụ số giao dịch được đăng lý thành lập theo quy Äinh của pháp luật nhằm me đích thực kinh doanh" Đến Luật Doanh nghiệp năm 2020 tại khoản 10 Biéu 4 khái niệm doanh nghiệp về cơ bản vẫn được nhìn nhận như ở Luật doanh nghiệp 2014 “ Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, cô tru số giao dịch được Thành lập hoặc đăng ij thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mane đích inh doanh". Trong đó, kinh doanh là việc thực hiên liên tục một, một số hoặc tắt cả các công đoan của quá trình dau tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. hoặc cung ứng dịch vu trên thi trường nhấm mục đích tim kiểm lợi nhuận.
Đặc dtém cũa doanh nghiệp "Với khải niệm doanh nghiệp được đưa ra ở trên, doanh nghiệp theo đó co những đặc điểm pháp lý sau đây- Thứ nhất, doanh nghiệp là một chủ thể pháp luất. Khái niêm doanh. nghiệp trong luật pháp có ý nghĩa là danh tinh pháp lý chỉ những chủ thể hành nghề kinh doanh dé phân biết với những chủthể không có nghề nghiệp may. "Việc đất ra khái niệm doanh nghiệp với cách hiểu như vậy la tiên để cân thiết để sây dựng cơ chế điều chỉnh pháp luật đảm bão su bình đẳng trong kinh doanh, một đòi héi quan trong của cơ chế thi trường.
Doanh nghiệp không đơn thuần chỉ là những " cơ sở kinh tế" hay " tải sản” của những người tao ra doanh nghiệp, ma đưới góc đô pháp lý, doanh nghiệp có tư cảch của chủ thể pháp luật. Ngoại trừ doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tổn tại với tư cách. pháp lý độc lập (tương đổi) với chủ sở hữu của nó. Mỗi quan hệ giữa chủ si hữu của doanh nghiệp va doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa chủ sở hữu với đổi tượng của quyển sở hữu, ma còn là méi quan hệ giữa các chủ thể pháp lý độc lập.
Tính chất chủ thể pháp lý độc lâp của doanh nghiệp cho phép doanh. nghiệp có quyên tự chủ, đẳng thời phải chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt đông mà doanh nghiệp tư hoạt động kinh doanh hay những người làm công, những người được ủy quyền theo hợp đồng của doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kánh doanh nhân danh doanh nghiệp. Trách nhiệm pháp lý cơ ‘ban của doanh nghiệp về hoạt động kinh doanh thể hiện ở chỗ những cam kết tải chính, những nợ nẵn trong kinh doanh., doanh nghiệp phải chiu trách nhiệm bằng toàn bộ tải sản của minh va còn có thể vượt ra phạm vi những tài sản đó trong trường hợp nhất đính do pháp luật quy định (trường hợp những doanh nghiép theo chế đô trách nhiệm vô hạn) ‘Thi hai, để được công nhận tư cách chủ thể pháp lý, doanh nghiệp phải được đăng ký doanh nghiệp theo thủ tục nhất định do pháp luật quy định 'Việc đăng ký doanh nghiệp là cơ sỡ để xác định tinh chất chủ thể pháp lý độc lập của doanh nghiệp gắn với những đặc điểm của hoạt đông kinh doanh. Đặc điểm nay xuất phat từ yêu cầu của quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trong nén kinh tế thị trường Đây là một đặc điểm quan trong bởi nó thể hiện thái độ của Nha nước đổi với tổ chức kinh tế, xác định tổ chức ay có.
10 đủ diéu kiên hay không để được công nhận lả một doanh nghiệp. Theo đó, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được pháp luật bao vệ nhằm chồng lại những hành vi xâm pham quyển va lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Hon nữa, việc đăng ký doanh nghiệp sẽ tao ra một môi trường cạnh tranh an toản va minh bạch khi các nha đâu tư dé dang tìm hiểu thông tin về đối tác từ số đăng ký doanh nghiệp. Việc đăng ký doanh nghiệp vi thé có thể giúp cho các doanh nghiệp tránh được tình trạng lửa do bang việc bưng bít thông tín hay cạnh tranh không lành manh trong hoạt động kinh doanh vốn đã có nhiều iro. ‘Tint ba, doanh nghiệp có nghề nghiệp kinh đoanh.
Nếu một chủ thé nao đó thực hiện hành vi kinh doanh có tính chất đơn lẽ, vụ việc thì không thể xem chủ thể đó là doanh nghiệp. Đây cũng là căn cứ quan trong để phân biệt doanh nghiệp với các chủ thể khác. Ngoài ra, bản thên nghề nghiệp kinh doanh đã quy định muc đích thu lợi nhuận trong các hoạt động cia doanh: nghiệp. Những 18 chức được thảnh lâp không phải vì mục đích kinh doanh cũng có thể hoạt động kinh doanh trong những trường hợp nhất định, tuy.
nhiên hoạt đông chính của tổ chức nảy Không phải là hoat đông kinh doanh, và vi vay không được xem là một doanh nghiệp cho dit doanh số ma tổ chức đó thu được tir việc kinh doanh có thé rat lớn. Mặt khác, cũng can hiểu rằng, doanh nghiệp coi kinh doanh 1a nghề nghiệp nhưng điều đó không có ngiĩa là doanh nghiệp chỉ thực hiện hoạt động kinh doanh.