CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm chăn nuôi Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người [19]. Vị trí, vai trò của ngành chăn nuôi Chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn nói riêng là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp.
Ở nước ta ngành chăn nuôi cung cấp khoảng 30% tổng sản phẩn nông nghiệp [19]. Việc nâng cao đời sống vật chất của các tầng lớp nhân dân, cải thiện điều kiện dinh dưỡng và chất lượng bữa ăn phụ thuộc một phần đáng kể vào sự phát triển của ngành chăn nuôi. Ngành chăn nuôi cung cấp cho con người các loại thực phẩm và các chế phẩm có giá trị cao, hiện nay hàng năm ngành chăn nuôi cung cấp khoảng trên 1,6 triệu tấn thịt các loại, trên 40 ngàn tấn sữa và trên 3 tỷ quả trứng [19]. Chính vì thế ngành chăn nuôi của Việt Nam trong những năm gần đây đã góp phần chủ đạo vào đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho người dân, đặc biệt là người dân nông thôn.
Ngành chăn nuôi thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến phát triển, các cơ sở chế biến sữa, thịt. được hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển chăn nuôi. Ngành chăn nuôi còn cung cấp các nguyên liệu công nghiệp như: da, lông, sừng, móng để sản xuất các mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra ngành chăn nuôi còn cung cấp một lượng phân bón hữu cơ cho trồng trọt, góp phần tăng năng suất cây trồng, mặt khác ngành chăn nuôi còn sử dụng các sản phản của ngành trồng trọt kể cả phụ phẩm, thúc đẩy ngành trồng trọt phát triển.
Nguồn gốc của lợn rừng Theo danh mục động vật thông thường ban hành kèm Theo Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT, ngày 25 tháng 9 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lợn rừng thuộc bộ guốc chẵn (Artiodactyla), họ lợn (Sus), loài lợn rừng (Sus Scrofa) [18]. Phân bố lợn rừng Lợn rừng được phân bố từ Châu Âu, Châu Á và Bắc Phi. Tuy nhiên Theo chân con người, nay đã có mặt nhiều nơi trên thế giới. Lợn rừng sống chủ yếu vùng núi, ẩm ướt.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Lợn rừng là giống lợn hoang dã đang được thuần hóa ở Thái Lan, Việt Nam. Lợn rừng, thường có hai nhóm giống: Nhóm giống mặt dài và nhóm giống mặt ngắn. Lợn rừng hay còn được gọi là lợn lòi có thể được coi là tổ tiên của lợn nhà [15]. Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi lợn 1.
Nhân tố tự nhiên Đối với ngành chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn rừng chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên, khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm) có tác động trực tiếp và gián tiếp tới vật nuôi. Nếu thời tiết khí hậu và môi trường quá khắc nhiệt thì hoạt động chăn nuôi lợn cũng không thể phát triển được. Bên cạnh đó phát triển chăn nuôi lợn thì đất đai, nguồn nước là yếu tố cũng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của lợn. Đất đai nói chung là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất chăn nuôi như xây dựng chuồng trại, trồng rau làm thức ăn cho lợn.
Do đó, để phát triển chăn nuôi lợn rừng cần có một diện tích đủ lớn theo quy mô chăn nuôi. Nhân tố kinh tế Vốn sản xuất: Nguồn vố ảnh hưởng việc chăn nuôi lợn, là điều kiện quyết định đến hành vi chăn nuôi của người dân. Không có vốn hoặc vốn ít thì hoạt động chăn nuôi lợn chỉ dừng lại hình thức nuôi tận dụng, sản phẩm làm ra chỉ phục vụ nhu cầu chính mình hoặc như một hình thức tiết kiệm của người sản xuất. Nếu được đầu tư vốn, chăn nuôi sẽ được mở rộng về quy mô và đi vào nâng cao chất lượng như nuôi theo quy mô lớn hoặc tổ chức trang trại chăn nuôi, ngoài ra vốn được sử dụng để xây chuồng trại, mua con giống,… Mặc dù vốn đầu tư ban đầu cho chăn nuôi lợn rừng tương đối cao song do thời gian sinh trưởng và đặc điểm ngoại hình của lợn rừng mà người dân vẫn chưa mạnh dạn đầu tư.
Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ cũng là một nhân tố quan trọng không kém trong chăn nuôi lợn rừng. Áp dụng công nghệ hiện đại trong tất cả các khâu chăn nuôi sẽ làm cho ngành chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn rừng nói riêng trở thành một ngành công nghiệp chăn nuôi thực sự, sản phẩn mang lại sẽ được nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng đáp ứng đầy đủ nhu cầu đa dạng cho người tiêu dùng, không chỉ là thị trường nội địa mà còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Nhân tố kỹ thuật Giống: Cũng như rất nhiều ngành chăn nuôi khác, chọn lợn rừng giống nuôi phải đảm bảo khỏe mạnh không dịch bệnh, có khả năng tăng trưởng tốt… thì mới đạt hiệu quả kinh tế, con giống có chất lượng tốt sẽ đảm bảo cho phát triển của lợn sau này. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Thức ăn: Có ý nghĩa rất quan trọng đến sự sinh trưởng của lợn, Lợn rừng vốn là loại động vật hoang dã trong rừng và tự tìm kiếm thức ăn, nước uống.
Hơn nữa, do đặc điểm của giống loài cộng với sức sống hoang dã qua nhiều thế hệ đã tạo cho lợn rừng có cấu tạo về hình dáng bên ngoài rất thích hợp với việc tìm kiếm, đào bới thức ăn, thức ăn của lợn rừng như thân lá cây non, các loại rễ, các loại củ, các loại rau cỏ, các loại trái cây rụng trên mặt đất, ngoài ra chúng còn ăn giun đất, dế, châu chấu, cào cào. thậm chí xá cây, xác động vật chưa thối rữa hết lợn rừng vấn ăn và tiêu hóa bình thường, lợn rừng cũng ăn thức ăn công nghiệp mà hay dùng nuôi lợn nhà. Phương thức nuôi: Kiểu chuồng tự nhiên: Lợn rừng là động vật hoang dã mới thuần dưỡng nên khá nhạy cảm, tính cảnh giác cao là loài có linh cảm tốt nên chúng ưa nhất kiểu sống trong các kiểu chuồng trại càng gần với tự nhiên càng tốt. Khu đất xây dựng trang trại lợn rừng cần có nhiều cây bóng mát, bụi cây nhỏ rậm rạp để làm mát cho lợn rừng vì lợn rừng không chịu được nóng và thích chui rúc trong các lùm cây để ẩn nấp vào ban ngày.
Kiểu chuồng thâm canh: Dùng lưới B40 (loại cọng lớn) vây thành các ô nuôi. Trụ đỡ cho bờ rào lưới là các thân cây gỗ lớn có đường kính ít nhất 10cm, mổi thân gỗ cách nhau 10 -15cm. Chân bờ tường chuồng và chân bờ rào có móng kiên cố xây tường bao quanh cách mặt đất khoảng 50cm để vô hiệu hoá khả năng đào hang của lợn rừng. Mỗi ô chuồng quây lưới cao 1,2 - 1,5m trở lên, có diện tích rộng 4 - 6m2 tức rộng 2m, dài 3m cho mỗi con.
Nhân tố kinh tế xã hội Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Đây là khâu then chốt của sản xuất hàng hóa, thị trường chính là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Dù chăn nuôi dưới hình thức nào thì mục đích của người chăn nuôi cũng để bán, để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Ngày nay, khi đời sống kinh tế xã hội phát triển thì nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao đòi hỏi thị trường phải cung cấp sản phẩm thịt lợn có chất lượng cao.
Đáp ứng nhu cầu đó, người chăn nuôi đã đầu tư nuôi lợn rừng hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng thịt và an toàn song còn gặp phải nhiều khó khăn do thị trường mang lại như biến động giá cả, các sản phẩm cạnh tranh, thay thế,… Vì vậy thị trường tiêu thụ có tác động tích cực đến chăn nuôi lợn rừng. Lao động: Chăn nuôi lợn rừng đã có từ lâu nên người dân tích lũy được nhiều kinh nghiệm, mặt khác chăn nuôi lợn rừng là một công việc không vất vả lắm, có thể sử dụng lao động dư thừa. Do vậy ở những nơi lao động nhàn rỗi nhiều thì hoạt động chăn Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 nuôi lợn nói chung và lợn rừng nói riêng cũng phát triển, chính vì có sự ảnh hưởng của yếu tố này nên hoạt động chăn nuôi chủ yếu tập trung nhiều ở vùng nông thôn. Nhân tố xã hội: Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường, sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là hết sức quan trọng.
Nó có thể khuyến khích sự phát triển của một ngành sản xuất nào đó hoặc ngược lại, kìm hãm sự phát triển của ngành đó. Chăn nuôi lợn rừng đã có nhiều chuyển biến song vẫn rất cần sự can thiệp của Nhà nước theo hướng thúc đẩy phát triển. Nhân tố tổ chức sản xuất Lựa chọn một hình thức tổ chức hợp lý sẽ tạo thế mạnh cho phát triển chăn nuôi. Trước kia, nước ta chỉ có hai hình thức sản xuất được tổ chức chủ yếu đó là quốc doanh và tập thể.
Chăn nuôi trong nông hộ chỉ được coi là sản xuất phụ, không được chú ý đầu tư thậm chí còn bị kìm hãm. Đến năm 1986, hộ gia đình được khẳng định như là một đơn vị kinh tế tự chủ, có điều kiện phát huy thế mạnh của mình nhằm khai thác triệt để các tiềm năng về đất đai, lao động, tiền vốn, tạo cho nông nghiệp nước ta một bước tiến vượt bậc. Chăn nuôi nước ta hiện nay chỉ còn hai hình thức chăn nuôi cơ bản là quốc doanh và hộ gia đình, song chăn nuôi các nông hộ đã thực sự làm thay đổi về cơ cấu sản phẩm nông nghiệp lên một cách rõ rệt. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chăn nuôi Trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng phải sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế được chia thành hai nhóm: các chỉ tiêu thể hiện kết quả và chi phí sản xuất và các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sản xuất.
Các chỉ tiêu thể hiện kết quả là: Giá trị tổng sản lượng (GO): là chỉ tiêu tổng hợp được tính bằng tiền phản ánh kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh. (GO) = Tổng sản lượng * đơn vị sản phẩm.