phần Mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương Chƣơng 1 – Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thanh tra ở cục thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chƣơng 2 – Phân tích thực trạng thanh tra ở cục thuế tỉnh Hưng Yên đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chƣơng 3 - Giải pháp hoàn thiện thanh tra ở cục thuế tỉnh Hưng Yên đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 6 CHƢƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THANH TRA Ở CỤC THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1.
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục đích sinh lời (hoặc công ích). Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp rất đa dạng và bao gồm rất nhiều loại, trong đó có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) bao gồm doanh nghiệp được thành lập bởi nhà đầu tư nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phân thành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, theo quy định về phân cấp quản lý của cơ quan thuế Việt Nam, nhóm doanh nghiệp có vốn ĐTNN chính là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được xếp vào nhóm doanh nghiệp khác để thuận tiện cho công tác quản lý.
Việc phân nhóm này nhằm hạn chế sự biến động trong công tác quản lý doanh nghiệp của cơ quan thuế. Ví dụ như một công ty cổ phần ban đầu 100% vốn trong nước được phân cấp quản lý tại bộ phận quản lý các doanh nghiệp dân doanh. Sau khi phát hành cổ phiếu ra công chúng và số cổ phiếu này được các nhà ĐTNN mua lại thì trên thực tế doanh nghiệp này đã có vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Nếu xếp doanh nghiệp này vào nhóm doanh nghiệp có vốn ĐTNN do bộ phận quản lý các doanh nghiệp có vốn 7 ĐTNN quản lý thì phải thực hiện quá trình chuyển doanh nghiệp được quản lý giữa các bộ phân của cơ quan thuế.
Nếu các nhà ĐTNN bán hết cổ phần của mình trong công ty thì doanh nghiệp trên lại trở thành doanh nghiệp 100% vốn trong nước và do vậy quá trình chuyển doanh nghiệp quản lý lại diễn ra gây rất nhiều khó khăn cho cơ quan thuế. Do đó, trên góc độ quản lý của cơ quan thuế, doanh nghiệp có vốn ĐTNN chỉ dùng để chỉ doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vậy nên, trong phạm vi luận văn này nghiên cứu doanh nghiệp có vốn ĐTNN là chỉ đối với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đặc điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp có vốn ĐTNN có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư.
Thứ hai, được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp. Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp. Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trị giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao. Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận động của dòng vốn đầu tư.
Thứ sáu, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó. 8 Thứ bảy, đầu tư nước ngoài chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện. Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận ĐTNN diễn ra với những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét.
Chính những đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút ĐTNN phải chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân đối giữa kênh ĐTNN với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế. Thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1. Chính sách thuế áp dụng với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài a) Thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đối tượng đánh thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở Việt Nam, kể cả hàng hóa dịch vụ sản xuất trong nước và hàng hóa dịch vụ nhập khẩu, tiêu dùng nội bộ.
Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh mọi ngành nghề sản xuất, xây dựng, vận tải , thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ mọi thành phần kinh tế, hoạt động các ngành hàng, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất Thuế GTGT ở Việt Nam đang áp dụng hai phương pháp tính thuế: khấu trừ và trực tiếp trên giá trị tăng thêm hoặc doanh thu. b) Thuế thu nhập doanh nghiệp Đối tượng đánh thuế TNDN là thu nhập chịu thuế phát sinh trong năm kinh doanh của doanh nghiệp, từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các khoản thu nhập khác, kể cả các thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở ngoài và chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất. 9 Đối tượng nộp thuế TNDN là tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu nhập chịu thuế. Đối tượng không thuộc diện nộp thuế TNDN là hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản (trừ hộ gia đình, cá nhân, nông dân sản xuất hàng hoá lớn có thu nhập cao theo quy định của Chính phủ).
Ngoài ra, đối với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Chính phủ Việt Nam ký kết có quy định khác thì thực hiện theo quy định đó. Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất. c) Thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu Thuế xuất khẩu là một loại thuế gián thu và là công cụ để can thiệp vào các hoạt động ngoại thương, với các mục đích: o Giảm cung và cải thiện tỷ lệ ngoại thương o Tạo nguồn thu cho ngân sách, thay thế cho thuế thu nhập o Ổn định giá cả trong nước Do thuế xuất khẩu dẫn đến hiệu ứng là gây tổn thất cho nhà sản xuất trong nước, đồng thời gây thiệt hại phụ trội cho nền kinh tế, nên để khuyến khích các ngành sản xuất trong nước phát triển thì chính phủ không đánh thuế xuất khẩu. Thuế nhập khẩu cũng là một loại thuế gián thu và là một yếu tố cấu thành nên giá cả hàng hoá nhập khẩu.
Thuế nhập khẩu dẫn đến kết quả là làm tăng chi phí của việc đưa hàng hoá vào một nước. Tuy cũng là một loại thuế tiêu dùng, nhưng mục tiêu của thuế nhập khẩu có phần khác với thuế GTGT ở chỗ ngoài việc cung cấp nguồn thu thì thuế nhập khẩu còn nhằm vào việc bảo hộ các ngành sản xuất cụ thể trong nước. Về nguyên tắc, thuế nhập khẩu đối với một mặt hàng sẽ làm tăng giá của mặt hàng đó ở nước nhập khẩu, và làm giảm giá mặt hàng đó ở nước xuất khẩu. d) Thuế nhà thầu 10 Các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài hành nghề độc lập kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam có nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam.
e) Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) cũng là một loại thuế gián thu nhằm điều tiết thu nhập, hướng dẫn tiêu dùng hàng hoá. Các cá nhân, tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam có sản xuất mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB mà tiêu thụ trên thị trường Việt Nam đều phải nộp thuế. Đối tượng của thuế là giá tính thuế đối với hàng hoá bán ra. Giá tính thuế của mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán thực tế ghi trên hoá đơn bán hàng của cơ sở sản xuất trong đó đã có thuế TTĐB.
f) Thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một loại thuế trực thu, thu vào một số thu nhập cao chính đáng của cá nhân nhằm động viên một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư vào Ngân sách Nhà nước. Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài và cá nhân khác định cư tại Việt Nam có thu nhập, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thu nhập đều phải nộp thuế thu nhập theo quy định tại pháp lệnh này. Đối tượng của thuế là thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên của từng cá nhân 1.