Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUAT THUẾ GIÁ TRI GIA TANG 11. Lý luận cơ bản về pháp luật thuế giá trị gia tăng. Khái quát về thuế giá tri gia ting ‘Thué gia trị gia tăng (có tên viết tắt là VAT tử cum từ tiếng Anh “Value ‘Added Tax”) là loại thuế đánh trên gia trị tăng thêm của hang hóa, dich vụ. So với nhiêu loại thuế khác, thuế GTGT có lịch str phát triển không đải nhưng lại trải qua một quá trình phát triển mạnh mẽ.
Trong quá trình áp dụng, thuế GTGT đã chứng tö được những đặc tính ưu việt của minh, vi vậy, nó đã nhanh chóng lan rng ra nhiễu nước khác nhau trên thé giới. Hiện nay, có tam 160 quốc gia đưa thuế GTGT vào hệ thống thuế của mình như Pháp, Anh, Úc, Nga, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản. Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thể giới (WB) và quỹ Tiên tệ quốc tế (IMF), ở phn lớn các nước sau khi áp dụng thuế GTGT, giá các loại hang hóa dich vụ đều không thay đổi hoặc chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kế va mức sản xuất của các doanh nghiệp, mức tiêu ding của dân chúng không sụt giảm, hay chỉ sụt giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đâu, kể cả các trường hợp thuê suất GTGT đôi với một số mặt hàng trong kỳ điều chỉnh”. Cũng theo dữ liệu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tính theo tỷ lê phân trăm thuế toàn câu, thuế giá tri gia tăng (GTGT) đã tăng đâu ˆ WB (2015), Global Economics Prospects: Hawg fiscal space and using it, Flagship report, Jen 2015.
1s vẻ tim quan trọng từ mức đưới 5% trong những năm 1960 lên đến đỉnh điểm. 'VẺ khái niêm, thuế giá trị gia tăng được hiểu là loại thuê tính trên gia trí tăng thêm của hang hoá, dich vụ phát sinh trong qua trình từ sẵn xuất, lưu thông dén tiêu dùng”. Thuê GTGT mang ban chất của thuế gián thu, với sự phân tách về người nộp thuế va người chíu thuê. Các nhà sản xuất, kính doanh vả cung cấp dich vụ là người nộp thuê nhưng người tiêu ding lại thực chất là người chịu thuê thông qua giá cả của hang hóa, dich vụ.
Điểu nay giúp các cơ quan thu thuế GTGT tránh được sự phin ứng gay git về thuê, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, việc thu, nộp thuế GTGT. Mặt khác, nó cũng có khả năng tác động tới sức mua của công chúng do phản thuế này đã được cầu thảnh trong giá bán hang hóa, cung cấp dich vụ cho người tiêu ding, do đó việc thực hiện thuế GTGT có thé lam ảnh hưởng tới tiêu dùng zã hội va mức độ lạm phát của nén kinh tế Về đặc điểm, thuế GTGT mang những đặc điểm chung của thuế như tính bắt buộc, tính quyển lực nha nước, tinh không hoàn trả trực tiếp va không Gi giá Tuy nhiên, có những đặc di n đặc trưng của thuế GTGT tạo nên sự. khác biệt với các loại thuế khác trong hệ thống pháp luật thuế, cụ thé Thứ nỉ thuế GTGT có đối tương chiu thuế rất rồng. Thuế GTGT lả thuế giản thu công thêm vào giá bán, không phải lả một yếu tổ chỉ phi, do đó nó không chiu ảnh hưởng bởi sự phân chia các chu trình kinh tế ma chỉ nhằm đông viên một phan thu nhập của đại bộ phân người tiếu dùng trong zã hồi vào ngân sách nhà nước (NSNN).
Vi vay, thuế GTGT xuất hién ở tất cả các khâu của quá trình sẵn xuất, lưu thông và tiêu dùng hang hóa, dịch vụ. Điều đó không chỉ mỡ rộng đối tương chịu thuế ra nhiều sản phẩm hảng hóa, dịch vụ mả nó còn có chủ. thể chịu thuế nhiêu hơn các loại thuế khác. Mọi đối tượng tổn tại trong x4 hội, Ý OECD (2018), Tax revenues contime increasing as the tax mix shifs further towards corporate and conswmption taxes, truy cập tei dia chi https Ủarynw oeed orginewsroonv/tax- revenmes-confinue-increasing-as-t shifts further-towards-comp orate-and he-tex-mue ‘consumphon-taxes him xgày 10/6/2021 Điệu 2 Luật Thuê Gia ti gia ting năm 2008 “ 'không phân biệt người giảu hay người nghèo, tổ chức hay cá nhân déu có thể trở thành chi thể chiu thuế GTGT thông qua việc tiêu dùng hằng hóa, dich vụ.
Điều nay thể hiền sự công bằng của thuế đồng thời thể hiện thái độ của nha nước đổi với các loại tiêu dùng trong x hội Thứ hai, thuê GTGT là loại thuế tính trên phân giá trị tăng thêm của hàng hóa dich vụ. Đây là đặc điểm khác biệt cơ bản va cũng là nguyên nhân Nhà nước tiến hành áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu. Nếu như trước đây thuế doanh thu đảnh vào toàn bộ giá tri của sản phẩm ở tat c& các khâu trong qua trình sẵn xuất, lưu thông, tiêu dùng hang hóa, dich vụ gây ra hiển tượng đánh thuế chẳng thuế thì thuế GTGT chỉ đánh trên phan gia trị tăng thêm của hing hóa, dich vụ trong mỗi khâu. Như vay, vé cơ bản gia cả của hàng hóa dich vụ bi thay đổi, tổng số thuế thu được của tat cả các giai đoạn đúng bang tổng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cudi cùng Đặc điểm nay không chỉ giải quyết những nhược điểm của thuế doanh thu trước đây ma nó còn góp phan han chế tình trạng lạm phát và phản ứng của người tiêu dùng do giá cả hảng hóa, dịch vụ tăng cao sau mỗi khâu của quá trình lưu thông.
Thứ ba, thuê GTGT mang ban chất liên hoàn và có tính trung lập kinh tế cao. Do thuế GTGT chỉ đánh trên phan giá trị tăng thêm của hang hóa, dich vụ, vi vay việc thực hiện thuế GTGT có sự liên hệ chặt chế giữa các khâu của qua lên hành khâu tiếp theo của cả qué trinh và ngược lại việc thực hiện khâu sau sẽ kiểm tra lại tinh chính xác của quá trình thực hiện khâu trước đó. Đây la một chủ trình thực hiện liên hoản và cỏ tính đổng bô nhằm đảm bao quá trình thu nộp thuế đạt được kết quả tốt nhất. Ngoài ra, thuế GTGT không phải là yéu tô cộng thêm ngoải giá ban của người cung cấp hang hỏa, dịch vụ.
Vì vay, thuế GTGT không bi ảnh hưỡng trực tiếp béi kết quả kinh doanh cia người nộp thuế, bởi quả trình tổ chức vả phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm được luân chuyển qua nhiêu hay ít giai đoạn thi tổng số thuê GTGT phải nộp của tat cả các. giai đoan không thay đỗi, vi vây nó có tinh trung lập kinh tế a 1. Khái quát pháp, VỀ thé gia tri gia tăng Pháp luật vẻ thuế là mốt bô phân quan trong trong pháp luật mỗi quốc. Tuy thuộc vào điều kiên kinh tế - xã hội của mình, mỗi quốc gia sẽ có chính sách xây dựng hệ thống pháp luật vé thuê riêng.
Xét về mat ly thuyết, pháp luật thuế bao gồm: pháp luật vật chất hay còn goi là pháp luật néi dung, và pháp luật thủ tục hay còn gọi là pháp luật hình thức. Trong đó, pháp luật vật chất ghi nhân, phân ánh chính sách thuế, ‘on pháp luật thủ tục quy định các van dé vẻ quản ly thuế Dưới góc đô lý luân, pháp luật phải hướng tới, tắc động tới một nhóm. quan hệ sã hội đặc trưng của nội dung pháp luật 4y. Pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế GTGT nói riêng cũng không ngoại lệ.
Vẻ khái niệm, pháp luật thuế GTGT là tổng hợp các quy pham pháp luật do Nba nước ban hành điểu chỉnh các quan hé phát sinh trong quá trình đăng kí, kế khai, nộp thuế, quản lí và quyết toán thuế giá trị gia tăng” Voi quan điểm về pháp luật thuế GTGT nêu trên, có thể thây một dầu. hiệu nhân diện về pháp luật thuê GTGT. pháp luật thuế GTGT được hình thành bai sự tổng hợp các quy pham pháp luật điều chỉnh trực tiếp về thuế GTGT hoặc có liên quan đến thuế GTGT. Tut hai, trong quan hệ pháp luật thuế GTGT luôn có sự tham gia của Nhà nước, đỏng vai tro là chủ thể có những quyển năng nhất định, như ban hảnh ra các văn ban quy phạm pháp luật điều chỉnh về thuê GTGT, thông qua các cơ quan đại điện cho minh thực hiện thu thuế GTGT va quản lý thuế GTGT.
Tham gia củng với Nhà nước trong mỗi quan hệ pháp luật nay, là những chủ thể cỏ nghĩa vụ nộp thuế, Thre ba pháp luật thuế GTGT chứa đựng các néi dung liên quan đến việc thu thuê GTGT của các co quan nha nước có thẩm quy: , việc nộp thuế GTGT của những chủ thể nộp thuế và trình tự, thủ tục liên quan đền việc quan lý thu - nộp thuế GTGT. Nguyễn Thị Thương Huyền (2008), Luật quân lý thu và những vấn đề cần ban thêm, Tạp eld ÑgHiên cit Lap pháp, sô 19/2008, 51 - 55 l 7 Trường Đại học Luat Ha Nội (2020), Giáo trink Luật Thuế Việt Nam, NXB Công an nhân din, Hà Nội. 8 Từ những định nghĩa và dấu hiệu nhân diện pháp luật thuê GTGT nêu trên, trong pham vi nghiền cửu để tài, chúng tối cũng thống nhất quan niệm, pháp luật thuê giá trị gia tăng là hệ thống các quy pham pháp luật do các cơ quan có thẩm quyển của Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp và quản lí thuê giá ti gia ting Pháp luật thuế GTGT có những điểm tương đồng và khác biết với pháp luật về các loại thuế khác. Cũng giống như pháp luật điều chỉnh vẻ các loại thuế khác, như thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thué tiêu thụ đặc biệt hay thuế thu nhập cá nhân, pháp luật thuế GTGT luôn tôn tai hai bộ phận song hành: Mốt là, pháp luật về nội dung thuế GTGT và hai là, pháp luật về hình thức (pháp luật quan lý thuế) GTGT.
Pháp luật về nội dung bao gồm các quy dinh diéu chỉnh trực tiếp những van để của một loại thuế, bao gồm đối tượng chịu thuế GTGT, đối tượng không chu thuế GTGT, người nộp thuế GTGT, căn cứ tính thuế GTGT; phương pháp tinh thuế, khẩu trừ thuê GTGT, hoàn thuế GTGT. Pháp luật vẻ quản lý thuế (pháp luật hình thức) quy định vé trình tự, thủ tục của hoạt động quản lý thuê như: Đăng ký thuế GTGT, kê khai thuế GTGT; nốp thuê GTGT. Ngoài ra côn có các quy định vẻ kiểm tra, giám sắt dim bảo viếc kê khai, thu thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hảnh chính thuế, xử.