Chương 1 và Chương 2. Theo đó, việc kết hợp chặt chẽ phương pháp phân tích với phương pháp diễn giải, quy nạp giúp giải thích các luận cứ khoa học, quan điểm của tác giả đưa ra trong luận văn là có căn cứ, phù hợp, có tính logic. Trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét, bình luận, quan điểm có chọn lọc để chuyển hoá vào nội dung của luận văn, đảm bảo các giải pháp mà tác giả đề xuất có tính kế thừa, hợp lý, tính khoa học cũng như tính thực tiễn cao. Trong các phuơng pháp trên thì các phương pháp: phân tích, diễn giải và quy nạp là các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu và xuyên suốt hầu hết các nội dụng của luận văn.
Đóng góp của đề tài - Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu một cách có hệ thống pháp luật về ưu đãi thuế TNDN đối với DNNVV đối với nhóm đối tượng DNNVV mà không phải là với toàn bộ doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta ở cấp độ luận-văn thạc-sĩ luật học. - Luận văn là công trình nghiên cứu một cách bao quát, có hệ thống lý luận pháp luật về thuế TNDN, lý luận về DNNVV, lý luận về đãi ngộ hay ưu đãi thuế TNDN riêng cho DNNVV; phân tích, đánh gía một cách tương đối với DNNVV. Trong đó, có thể kể đến những điểm đáng chú ý nhất đó là phân tích và đánh giá 6 lịch sử ra đời và phát triển của pháp luật ưu đãi thuế TNDN, lịch sử ra đời của khái niệm DNNVV, vai trò của DNNVV, sự tác động của pháp luật ưu đãi, đãi ngộ về thuế TNDN đối với sự phát triển của DNNVV. Ngoài ra, một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế TNDN đối với DNNVV tại luận văn là một nội dung tác giả rất mong muốn kiến nghị đến các CQNN có thẩm quyền trong giai đoạn sắp tới thực hiện rà soát, sửa đổi những quy-định của pháp luật về thuế TN-DN, góp phần giúp cho doanh nghiệp có thể thụ hưởng đầy đủ lợi ích và quyền của mình.
- Với những đóng góp như trên, luận văn có thể được xem làm tài liệu tham khải cho việc nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các cơ sở đào tạo Luật chuyên ngành kinh tế. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Một trong những thành phần chính, quan trọng của pháp-luật về thuế TN-DN mà không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà cộng đồng doanh nghiệp cũng rất quan tâm chính là ưu đãi thuế TNDN. Theo đó, trong suốt thời gian kể từ khi Luật Thuế lợi tức ra đời, đã có nhiều tổ chức, cá nhân và nhà khoa học nghiên cứu về nội dung này ở các phạm vi, mức độ, quy mô khác nhau. Kể từ sau thời điểm Luật thuế TNDN ra đời từ năm 2008 đến nay, vấn đề ưu đãi thuế TNDN nói chung và pháp luật về ưu đãi thuế TNDN nói riêng đã được nhiều công trình nghiên cứu từ các góc độ khác nhau.
Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây: - Đề tài “Pháp luật về ưu đãi về thuế TNDN tại Việt Nam” (2012) của tác giả Lưu Thi Tuyết đều đã trình bày cơ bản được những mục chung về ưu-đãi thuế TNDN, nhưng thời điểm thực hiện nghiên cứu là năm 2011 căn cứ vào luật thuế TNDN năm 2008, nên đến nay đã không còn phù hợp do luật này đã sửa đổi năm 2013; - Tác giả Ngô Thị Cẩm Lệ với đề tài “Pháp luật về thuế TNDN và thực tiễn trên địa bàn Hà Nội” (2012) đã nêu vấn đề ưu đãi thuế TNDN, tuy nhiên phạm vi chỉ trên địa bàn thành phố Hà Nội. 7 - Tác giả Vũ Thị Thùy Linh với đề tài “Ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Dương” (2015) tập trung chủ yếu vào thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Dương. - Đề tài “Pháp luật về ưu đãi thuế TNDN ở Việt Nam hiện nay” (2017) của tác giả Phan Quang Cường tuy đã có những phân tích, đánh giá bao quát, xuyên suốt từ khi Luật thuế TNDN 2008 được ban hành, nhưng chưa tập trung sâu vào đánh giá các quy định hiện hành, thực trạng trong hiện tại. Nghiên cứu pháp luật về các ưu-đãi thuế TNDN ở phạm vi rộng, mức độ chuyên sâu thì có thể kể đến một số công trình luận văn, khoá luận tốt nghiệp như Nguyễn Tiến Mạnh (2019), Pháp luật về ưu đãi thuế TNDN ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Đinh Thị Thơm (2012), Chế độ miễn giảm thuế TNDN – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, khoá-luận tốt-nghiệp.
Ngoài ra, với phạm vi hẹp hơn, nội dung nghiên cứu về ưu đãi thuế TNDN cũng từng được đăng tải trên các tạp chí như: Hoàn thiện quy định về ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, Phạm Thị Hiền Thảo, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 8/2019; Giảm thuế suất chung và điều chỉnh ưu đãi thuế TNDN, Nguyễn Văn Phụng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, só 8/2013; Bất cập trong pháp luật về ưu-đãi thuế TN-DN và một số đề xuất, TS. Nguyễn Minh Hằng, ThS Nguyễn Hải Yến, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 3/2019… Tuy nhiên, tính tới hiện tại, vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu tổng quát và chuyên sâu về lý luận cũng như thực tiễn pháp luật về ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta. Các tài liệu trên giúp cho tác giả có kiến thức tổng quát và nhận định được phần cần làm sáng tỏ cũng như đóng góp ý kiến để thực hiện nội dung “Pháp luật về ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”, góp phần có nhìn nhận một cách đơn giản, dễ nắm bắt được nhu cầu áp dụng và thực hiện. Nhận định đối với tình hình đã nghiên cứu: Các tài liệu trên đây đã làm sáng tỏ một số vấn đề, tùy theo nhận định của từng tác giả có những lý luận liên quan đến đề tài và số ít thực tiễn như sau: 8 (i), Đã có đầy đủ cơ sở trong việc bổ sung, xây dựng hầu như gần đủ mặt lý luận pháp-luật về ưu đãi thuế TN-DN.
(ii), Có những phân tích, nắm bắt được các quy định cũng như bình luận sâu sắc về hiện trạng pháp luật về ưu đãi thuế TNDN, từ đó đưa ra những nhận định riêng về ữu đãi cũng như đãi ngộ thuế TNDN có liên quan đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (iii), Việc nghiên cứu thực tiễn từ nhiều nguồn góp phần đánh giá được những kết quả của thông lệ trên quốc tế và so sánh với Việt Nam nhằm nhận định cơ hội cũng như bất cập nhưng chưa thực sự sâu sát hay cập nhật thời điểm cấp bách này về vấn đề thuế thu nhập doanh nghiệp vừa và nhỏ được ưu đãi như thế nào trên thế giới Tuy nhiên, nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật về ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thật sự chưa đầy đủ và mang tính kịp thời so với thông lệ của quốc tế, với cách nhìn nhận rằng việc tổng hợp các ưu đãi, đãi ngộ về thuế riêng cho DNNVV tại Việt Nam dựa theo những ưu đãi thuế TNDN nói chung từ đó sử dụng nghiên cứu thông lệ quốc tế nào phù hợp với Việt Nam: (i) Tổng hợp được và bình luận theo nhu cầu cho việc kiện toàn mặt khái niệm về ưu đãi hay đãi ngộ thuế TNDN đối với DNNVV dựa trên cơ sở lý luận. (ii) Phân tích sâu về hiện trạng về ưu đãi hay đãi ngộ thuế TNDN đối với DNNVV, chỉ ra những lúng túng, không thiết thực, hiệu quả của việc áp dụng chung chung dựa theo thuế TNDN mang tính thời điểm riêng cho DNNVV từ đó đưa ra kiến nghị góp phần kiện toàn về thuế TNDN đối với DNNVV. (iii) Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thực hiện về ưu đãi thuế TNDN đối với DNNVV ở Việt Nam, Luận văn sẽ bình luận, chỉ ra được cách thực hiện, lí do tại sao cần phải kiện toàn về ưu đãi hay đãi ngộ thuế TNDN đối với DNNVV. PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái quát về ưu đãi về thuế TNDN đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm ưu đãi về thuế TNDN đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, trong những năm gần đây, các DNNVV được cho là nguồn động lực chính trong sự tăng trưởng toàn cầu, chiếm đến hơn 90% số lượng doanh nghiệp và trong đó là hơn 50% số lượng việc làm toàn cầu; chiếm tỷ trọng ở mức 70% tổng khối lượng hàng hóa, dịch vụ và ngoài ra còn tạo ra khoảng hơn 50% trên tổng số những sáng tạo, đổi mới về mặt công nghệ toàn cầu.
Các chính phủ trên toàn thế giới đều nhận ra tầm ảnh hưởng của thuế TNDN đối với doanh nghiệp, và hướng tới thu hút các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh để đẩy mạnh năng suất và thúc đẩy tăng trưởng. Để đạt được điều này, các chính sách ưu-đãi và khuyến khích về thuế như giảm-thuế suất và thời gian miễn thuế được thực hiện tại các khu vực mục tiêu để tác động đến việc đầu tư vốn và tổ chức kinh doanh. Bên cạnh đó để cụ thể hóa về ngữ nghĩa “Ưu đãi”, Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “ưu đãi” là dành những điều kiện, lợi ích đặc biệt hơn các đối tượng khác. Còn “Đãi ngộ” là hàm ý sẽ được hưởng phần dành cho mình một cách tương xứng.
Riêng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, với vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khía cạnh kinh tế cũng như khía cạnh xã hội, doanh nghiệp nhỏ và vừa không phân biệt lĩnh vực, địa bàn hoạt động, cần được nhà nước cho áp dụng những ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp để góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội. Tuy nhiên, cho dù là quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển, mọi chủ thể trong xã hội phải hoạt động theo pháp luật là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa tham gia thị trường ở khắp mọi nơi.