phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỂ TÀI CHƢƠNG 2: HIỆN TRẠNG ĐMCN TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG BẰNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH - 13 - z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Công nghệ và đổi mới công nghệ 1. Khái niệm công nghệ “Công nghệ là công cụ”. Với quan niệm này, công nghệ dựa trên nền tảng là các máy móc thiết bị.
Cách nhìn này vẫn còn phổ biến đến ngày nay, mặc dù một vài định nghĩa có nói đến sự tác động qua lại giữa máy móc - con ngƣời. Những định nghĩa dựa trên quan niệm “Công nghệ là công cụ” đã mở ra phần nào chiếc hộp đen công nghệ, tuy nhiên nó vẫn còn thiếu sót. Tác giả Simon đã nói trong cuốn sách “Technology Policy Formulation and Planning: A Reference Manual” rằng: “Nhìn công nghệ ở khía cạnh máy móc và những vật chất rõ ràng sai lầm giống nhƣ chỉ nhìn thấy cái vỏ của con ốc sên, hay cái mạng của con nhện vậy.Ramanathan, tồn tại một số quan niệm phổ biến về công nghệ nhƣ sau: “CN là máy biến đổi”. Với quan niệm này, công nghệ đƣợc thể hiện ở hai khía cạnh.
Thứ nhất, nó thể hiện xu hƣớng cho rằng KH&CN là một và phải đƣợc áp dụng đồng thời, và các nhà khoa học ứng dụng cần tìm ra cách áp dụng vào thực tế các lý thuyết thuần tuý. Thứ hai, thuật ngữ “Công nghệ” liên quan đến khả năng làm một cái gì đó, ngụ ý rằng nó là những gì làm biến đổi yếu tố đầu vào thành sản phẩm đầu ra sau cùng. Quan niệm nhƣ vậy đã nhấn mạnh không chỉ tầm quan trọng của công nghệ trong việc giải quyết các vấn đề thực tế, mà còn nhấn mạnh sự phù hợp của mục đích kinh tế trong việc áp dụng công nghệ. “Công nghệ là kiến thức” cho rằng kiến thức là bản chất của tất cả các phƣơng tiện chuyển đổi.
Những ngƣời ủng hộ quan niệm này cho rằng kiến thức là khía cạnh quan trọng hàng đầu. Những định nghĩa đi theo quan niệm này ngụ ý rằng kiến thức có thể đƣợc phân loại thành “know-why” và “know-how”. “Know-why” là những kiến thức khoa học thuần tuý nhƣ các nguyên tắc liên quan đến vật lý và hiện tƣợng xã hội. “Know-how” dựa trên - 14 - z kinh nghiệm và kinh nghiệm tăng lên thông qua việc áp dụng “know-why” vào thực tế (phƣơng pháp thử - sai, kinh nghiệm, học hỏi từ chuyên gia).1 Theo quan điểm của UNIDO (United Nations Industrial Development Organisation - Tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc): “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và phƣơng pháp”.
Theo quan điểm của ESCAP: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phƣơng pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”. Trong bài giảng Môn quản lý công nghệ TS.Trần Ngọc Ca đã đƣa ra một khái niệm hợp lý về công nghệ nhƣ sau: Công nghệ có thể hiểu nhƣ mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phƣơng pháp (gọi là phần mềm) đƣợc lƣu giữ dƣới các dạng khác nhau (con ngƣời, ghi chép.) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tƣ liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ.) đƣợc áp dụng vào môi trƣờng thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ. Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.[21; điều 2] Tác giả luận văn cơ bản tuân theo khái niệm pháp lý này. Đặc điểm của công nghệ: Bất kỳ một công nghệ mới nào cũng có 5 đặc điểm cơ bản: 1. Trung tâm BR&T, (2006), Giới thiệu hệ thống đánh giá trình độ công nghệ, http://www.vn Cập nhập ngày 20/12/2006. - 15 - z - Công nghệ trƣớc hết là khoa học “Làm: tức là hệ thống tri thức về các giải pháp hành động, khác với khoa học “Hiểu” – Vũ Cao Đàm.
- Công nghệ hoạt động lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm. - Công nghệ tồn tại theo chu kỳ, phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm. Nó tồn tại và phát triển qua các giai đoạn: Ra đời - Tăng trƣởng - Thịnh vƣợng - Bão hoà - Tiêu vong. - Sản phẩm của công nghệ đƣợc xác định trƣớc theo thiết kế.
- Hoạt động công nghệ mang tính tin cậy cao, trên cơ sở một quy trình đã đƣợc nhà chế tạo chuẩn hoá và đƣợc ngƣời sản xuất làm chủ. Đổi mới công nghệ Hiện nay, ở Việt nam trong các văn bản chính thức, ngay cả Luật KH&CN, Luật chuyển giao công nghệ cũng không đề cập đến khái niệm ĐMCN. Đổi mới (Innovation) nói chung là việc tạo ra và phát triển một ý tƣởng nào đó và đƣa nó áp dụng trong cuộc sống. Trong khoa học có thể đổi mới là quá trình thƣơng mại hóa thành công một sáng chế.
Đổi mới là quá trình tìm kiếm, tiếp thu và sử dụng tri thức nên không thể là một việc chốc lát. Thành công không chỉ đƣợc đo bằng một đổi mới thành công mà bằng cả một chuỗi các đổi mới. Theo OECD (1997): “ĐMCN sản phẩm và quy trình (Technological product and process innivations) - là việc thực hiện đƣợc sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ hay đạt đƣợc tiến bộ đáng kể về mặt công nghệ đối với sản phẩm và quy trình. Đổi mới sản phẩm và quy trình đƣợc thực hiện nếu đổi mới đó đã đƣợc đƣa ra thị trƣờng (đổi mới sản phẩm) hoặc đƣợc sử dụng trong sản xuất (đổi mới quy trình).
Đổi mới sản phẩm và quy trình gắn với chuỗi các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thƣơng mại”. Khái niệm mới và đƣợc cải tiến cơ bản đƣợc OCED mở rộng là mới và đƣợc cải tiến đối với doanh nghiệp (không nhất thiết là mới hoặc đƣợc cải tiến so với thế giới). Điều này cho phép mở rộng phạm vi phân tích - 16 - z về đổi mới, đặc biệt trong bối cảnh của các nƣớc đang phát triển. ĐMCN là một phƣơng thức quan trọng để các doanh nghiệp tăng cƣờng khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng.
Đặc biệt các DNNVV, họ đang ở khu vực bất lợi so với các doanh nghiệplớn hơn bởi vì DNNVV thƣờng hạn chế về nguồn vốn để đầu tƣ cho hoạt động R&D hay thu nạp công nghệ. Đổi mới công nghệ là sự chủ động thay thế một phần đáng lẽ (cốt lõi, cơ bản) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ khác. Qua khảo sát thực tế cho thấy các DNNVV hoạt động xây dựng thƣờng hiểu ĐMCN là quá trình thay thế, bổ sung, hoàn thiện công nghệ cũ, lạc hậu, thành công nghệ mới tiên tiến hơn đồng bộ hơn. Tuy nhiên, những gì doanh nghiệp có đƣợc do những nỗ lực về công nghệ không chỉ đơn giản là mua công nghệ, nó đòi hỏi kinh nghiệm về sản xuất và những đầu tƣ phù hợp để tiếp nhận công nghệ.
Bởi vậy, hoạt động ĐMCN đòi hỏi các chƣơng trình hỗ trợ để nó trở thành công cụ hữu hiệu cải thiện khả năng cạnh tranh của DN. Những đóng góp của công nghệ trong ngành xây dựng Thập kỷ 90 đã khép lại thế kỷ XX mở ra thế kỷ XI, với rất nhiều phát minh tiến bộ của lịch sử loại ngƣời, đặc biệt trong KH&CN. Riêng với ngành xây dựng Việt Nam, đây cũng là thập kỷ của sự đổi mới và phát tiển mạnh mẽ của sự đổi mới và phát triển mạnh mẽ, góp phần tạo đà cho sự phát triển nền kinh tế đất nƣớc, trong thập kỷ mới, thiên niên kỷ mới. Dù thế, không thể phủ nhận, đặc thù kinh tế Việt Nam là nền nông nghiệp lúa nƣớc kéo dài suốt mấy ngàn năm đã ảnh hƣởng không nhỏ tới đời sống ngƣời dân và bộ mặt đô thị đất nƣớc.
Bởi vậy 50 năm trƣớc, khi nói về đô thị Việt Nam, cũng nhƣ KH&CN trong xây dựng chỉ là nhắc đến những công trình xây dựng giản đơn, kỹ thuật xây dựng thô sơ. Nhà ở là các công trình 1-3 tầng tƣờng gạch, mái ngói. Nhà máy chủ yếu là các công trình xây gạch hoặc bê tông cốt thép bƣớc cột nhỏ do nƣớc ngoài thiết kế. Bức tranh xây dựng ở nông thôn còn khiêm tốn hơn, nhà cửa chủ yếu là tranh tre, nứa lá.
- 17 - z Tới những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, nhất là thời kỳ đổi mới, gần 20 năm qua, cùng với sự tăng trƣởng của nền kinh tế đất nƣớc, ngành xây dựng đã có những bƣớc tiến rất đáng tự hào, trong đó phải kể đến sự tiến bộ vƣợt bậc của KH&CN xây dựng và việc áp dụng những thành tựu này vào mọi hoạt động của Ngành. Nếu coi lịch sử phát triển 50 năm ngành xây dựng là một cuộc hành trình, thì chuyển biến rõ nhất là những đô thị đơn điệu với các công trình nhà thấp tầng tƣờng xây, mái ngói nghèo nàn thời kỳ đầu, đã dần đƣợc thay thế bằng những đô thị đƣợc quy hoạch văn minh, các công trình nhà ở, nhà văn hoá, sân vận động, công sở hiện đại, đồ sộ, cao tầng và bề thế, đặc biệt ở các đô thị lớn nhƣ Hà Nội, TP. Sự khởi sắc này trên cả nƣớc, có sự đóng góp đáng kể của KH&CN xây dựng. Nhìn về mấy thập kỷ trƣớc, thấy rõ kỹ thuật xây dựng nền móng thật giản đơn.
Tới nay, móng nông xây gạch hoặc dùng cọc đóng phổ biến là cọc tre, cọc tràm, cọc bê tông cỡ nhỏ chịu lực nhỏ không còn phù hợp nữa. Thay vào đó kỹ thuật xây dựng nền móng mới ra đời. Hiện tại trên đất nƣớc ta, những khu đô thị mới, hiện đại nhất nhƣ Trung Hoà - Nhân Chính (Hà Nội), Phú Mỹ Hƣng (TP.HCM)… với những khu chung cƣ cao mấy chục tầng, đƣợc xây dựng bằng những giải pháp KH&CN nền móng tiên tiến nhất, nhƣ cọc nhồi khoan sâu tới 45 - 55m, có đƣờng kính trung bình 1,0 - 1,5m với sức chịu tải rất lớn có thể lên tới 500 - 1.